vanban.org

Bản án 43/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 11/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo BÀN X T, BÀN THỊ X phạm tội Hủy hoại rừng.

Xử phạt bị cáo BÀN X T 03 (Ba) năm tù cho hưởng án treo, thử thách 05 (Năm) năm. Hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 11/12/2023). Xử phạt bị cáo BÀN THỊ X 01 (một) năm 03 (Ba) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 02 (Hai) 06 (Sáu) tháng. Hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bàn Xuân Thọ, Bàn Thị Xuân hủy hoại rừng - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo BÀN X T, BÀN THỊ X phạm tội Hủy hoại rừng.
  • Căn cứ chính? Điều 243 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NA HANG
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2023/HS-ST
Ngày: 11- 12 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NA HANG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Thành.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lương Quang Toán;

Ông Hoàng Văn Lang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án, Toà án nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2023/TLST-HS ngày 16/11/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2023/QĐXXST-HS, ngày 28/11/2023 đối với các bị cáo:

1. BÀN X T; Sinh ngày: 27/7/1978, tại: huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: thôn B L, xã Đ V, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang; Dân tộc: Dao; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: lớp 5/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Chức vụ (đảng, đoàn thể): Không; Con ông Bàn Tiến Sênh, sinh năm 1957 và bà Bàn Thị Khé, sinh năm 1956; Vợ: Bàn Thị Nhất, sinh năm 1984; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không;.

Bị bắt tạm giam từ ngày 31/5/2023 đến ngày 12/7/2023, được thay thế bằng biện pháp Bảo lĩnh. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

2. BÀN THỊ X; tên gọi khác: Bàn Thị Xiên, Sinh ngày 25/12/1967 tại: huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: thôn B L, xã Đ V, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang; Dân tộc: Dao; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: lớp 12/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Chức vụ (đảng, đoàn thể): Không; Con ông Bàn Sành Vần, sinh năm 1937 và bà Triệu Thị Nhàng (đã chết); Chồng: Chúc Tạ Siểu (đã chết); Con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1991, con nhỏ nhất sinh năm 2000;

Tiền án (là tình tiết để định tội): Ngày 24/4/2013 bị Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xử phạt 04 năm tù về tội Huỷ hoại rừng; chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 23/01/2016, chưa chấp hành xong phần bồi thường thiệt hại dân sự (Bản án số 15/2013/HS-PT).

Tiền sự, nhân thân: Không;

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Người bào chữa:

Người bào chữa cho bị cáo BÀN X T: Bà Nguyễn Thị Phương và bà Nguyễn Kim Tuyến – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo BÀN THỊ X: Bà Hà Minh Phương- Luật sư văn phòng Luật sư Minh Phúc, Đoàn luật sư tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

* Bị hại: Ủy ban nhân dân xã Đ V- Người đại diện theo pháp luật ông Trần Ngọc Lĩnh- Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Lý Thị X, sinh năm 1964. Có mặt.

2. Bàn Thị Sếnh, sinh năm 1990. Có mặt.

3. Triệu Thị Chạn, sinh năm 1991. Có mặt.

4. Bàn Thị Nái, sinh năm 1977. Có mặt.

5. Phùng Thị Nghinh, sinh năm 1988. Có mặt.

6. Phùng Thị San, sinh năm 1967. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn B L, xã Đ V, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang.

7. Bàn Thị Duyên, sinh năm 1989. Vắng mặt.

8. Bàn Càn San, sinh năm 1983. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn B L, xã Đ V, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang.

* Người làm chứng:

1. Bàn Thị Nhất, sinh năm 1984. Có mặt.

2. Lý Thị Mụi, sinh năm 1993. Có mặt.

3. La Thị Pú, sinh năm 1966. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn B L, xã Đ V, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang.

4. Hà Văn Kim, sinh năm 1995. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn Bản Lằn, xã Sơn Phú, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang.

5. Lý Thanh Quang, sinh năm 1982. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn Đá Bàn, xã Minh Hương, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 05/01/2022, Trạm kiểm lâm khu C, thuộc Hạt kiểm lâm huyện Na Hang tuần tra phát hiện tại lô 8, lô 10, khoảnh 483A, rừng sản xuất là rừng tự nhiên Lùng Duốc, thôn B L, xã Đ V, huyện Na Hang xảy ra vụ Huỷ hoại rừng trái phép nên đã trình báo đến Hạt Kiểm lâm huyện Na Hang kiểm tra, xác minh theo quy định của pháp luật. Hành vi phạm tội xảy ra tại lô 8 và lô 10 được xác định như sau:

* Hành vi Huỷ hoại rừng tại Lô 8, Khoảnh 483A, rừng sản xuất là rừng tự nhiên Lùng Duốc, thôn B L, xã Đ V, huyện Na Hang:

Khoảng cuối tháng 11/2021, BÀN X T một mình mang theo 01 con dao quắm đi đến khu vực rừng Lùng Duốc, thuộc thôn Bản Lục chặt phát rừng để lấy đất trồng cây lâm nghiệp. T chặt phá cây bụi, dây leo, chuối rừng, cây thân gỗ nhỏ trong 05 ngày thì được một diện tích trên 10.000m2, còn lại các cây thân gỗ to do không dùng dao chặt được. Sau đó T nói cho vợ là Bàn Thị Nhất biết việc đang phát rừng tại khu vực Lùng Duốc và bảo Nhất nhờ người đi phát rừng hộ, Nhất đồng ý. Sau đó Nhất liên hệ nhờ Lý Thị X (mẹ Nhất), Bàn Thị Duyên, Bàn Thị Sếnh, Triệu Thị Chạn, Bàn Thị Nái, Phùng Thị Nghinh, Phùng Thị San, cùng trú tại thôn B L, xã Đ V, huyện Na Hang đi phát rừng bằng hình thức đổi công, những người này đồng ý. Khoảng 07 giờ ngày hôm sau, Nhất, T cùng X, Duyên, Sếnh, Chạn, Nái, Nghinh và San mỗi người đem theo 01 con dao đi đến khu vực rừng Lùng Duốc để cùng nhau phát rừng. Những người trên chặt phá các cây chuối, cây bụi, dây leo, các cây gỗ nhỏ, để lại cây thân gỗ to và thực hiện phát theo hình thức đi thành hàng ngang phát dần lên đỉnh đồi, không khoán theo từng khu vực, chặt phá rừng đến khoảng 11 giờ cùng ngày thì nghỉ. Ngày hôm sau T và Nhất tiếp tục cùng nhau dùng dao đi chặt phá rừng một buổi nữa thì phát xong cây bụi, dây leo, cây gỗ nhỏ được một phần diện tích rừng.

Ngày 15/12/2022, T liên hệ với Bàn Tiến Quân, sinh năm 1977, địa chỉ thôn B L, xã Đ V, huyện Na Hang để thuê Quân dùng máy cuốc mở đường lên khu vực rừng T chặt phá. Trong 03 ngày từ ngày 15/12/2021 đến ngày 17/12/2022, Hà Văn Kim, là người lái máy cuốc được Quân thuê đã cuốc mở đường theo chỉ dẫn của T. Đến sáng ngày 27/12/2021, T thuê Bàn Càn San mang theo 01 máy cưa xăng của San giúp T khai thác gỗ về làm củi, tiền công thỏa thuận là 300.000 đồng/ngày, xăng, nhớt do T mua. Cùng đi làm giúp T còn có Nhất, X, Lý Thanh Quang. T và San thay nhau cắt đổ các cây gỗ bồ đề xuống, cắt hạ cây nào thì cắt ngắn thành từng khúc, mỗi khúc dài tầm 02 mét; còn X, Quang, Nhất hộ giúp lao các đoạn gỗ xuống đường. Ngày 27/12/2021, T và San, Nhất, X chỉ làm một buổi; đến sáng ngày 28/12/2021, T và San tiếp tục thay nhau cắt các cây bồ đề. Nhất cùng X, Quang tiếp tục giúp lao các khúc củi xuống đường. Sau đó, San biết khu vực rừng đang làm cho T chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không làm nữa. Từ ngày 29/12/2021 đến 30/12/2021, T một mình sử dụng 01 máy cưa xăng của T đi cắt các cây gỗ đường kính từ 06 cm trở lên (bồ đề, gáo, bông bạc, thôi ba, kháo…) trên toàn bộ diện tích rừng còn lại đã được phát cây bụi, dây leo; cắt hạ xong T để lại toàn bộ gỗ tại hiện trường.

Ngày 10/01/2022, Hạt Kiểm lâm huyện Na Hang phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường. Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định vị trí bị chặt phá rừng trái phép tại Lô 8, Khoảnh 483A, chức năng rừng sản xuất là rừng tự nhiên, trạng thái TXP (rừng tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh phục hồi), thuộc khu vực Lùng Duốc, thôn B L, xã Đ V, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang; diện tích rừng bị chặt phá là 15.888m2; lâm sản bị thiệt hại là gỗ thông thường (nhóm VI đến nhóm VIII), có khối lượng là 69,744m3.

Ngày 13/01/2022, Hạt kiểm lâm huyện Na Hang tiến hành làm việc với BÀN X T, T đã khai nhận hành vi huỷ hoại rừng trái phép. Khoảng 01 tuần sau khi làm việc với Cơ quan kiểm lâm, T lo sợ diện tích rừng huỷ hoại lớn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự nên T đã bàn bạc với Bàn Thị Nhất nhờ những người đi phát rừng hộ trước đó nhận hộ mỗi người một phần diện tích đã chặt phá (chia nhỏ diện tích rừng), Nhất đồng ý và gọi điện nhờ Lý Thị X, Bàn Thị Duyên, Bàn Thị Sếnh, Triệu Thị Chạn, Bàn Thị Nái, Phùng Thị Nghinh, Phùng Thị San sang nhà Nhất để T nói chuyện. Khi những người này đến nhà, T nhờ những người trên đứng ra nhận giúp mỗi người mỗi phần diện tích rừng T chặt phá, phân chia ranh giới thành của 08 hộ gia đình, mỗi người chịu một phần để T chỉ bị xử lý vi phạm hành chính; Nhất và T đề nghị sẽ đổi công lao động cho những ngày phải đi làm việc với cơ quan chức năng và sẽ hỗ trợ tiền xăng xe đi lại, những người này lo sợ bị xử lý hình sự do đã giúp BÀN X T chặt phát rừng nên đồng ý. Đến sáng ngày hôm sau, T dẫn những người trên đến khu vực rừng Lùng Duốc để phân chia ranh giới, vị trí rừng chặt phá thành 08 ô. Đến ngày 24/01/2022, T làm đơn gửi đến Hạt kiểm lâm huyện Na Hang đề nghị xác minh lại vụ việc. Khi Hạt kiểm lâm huyện Na Hang tiến hành làm việc với Bàn Thị Duyên; Bàn Thị Nái; Bàn Thị Sếnh; Phùng Thị Nghinh; Lý Thị X; Triệu Thị Chạn; Phùng Thị San thì những người này đều khai nhận tự đi chặt phát rừng để lấy đất trồng lúa nương, sau đó mới nhờ hoặc thuê T cắt hạ các cây gỗ lớn. Sau khi Duyên, Nái, Sếnh, Nghinh, Lý Thị X, Chạn, San làm việc với Cơ quan chức năng về, Bàn Thị Nhất đã đổi công lao động cho những người này và hỗ trợ tiền xăng xe đi lại cho Duyên, Nghinh, Chạn, Sếnh mỗi người 100.000 đồng.

Căn cứ kết quả kiểm tra, xác minh xác định có dấu hiệu tội phạm, ngày 23/4/2023, Hạt kiểm lâm huyện Na Hang đã chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Na Hang để điều tra theo thẩm quyền. Ngày 25/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Na Hang đã Quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, theo quy định tại khoản 3, Điều 232 Bộ luật Hình sự. Sau khi khởi tố, BÀN X T, Bàn Thị Nhất, Lý Thị X, Bàn Thị Duyên, Bàn Thị Sếnh, Triệu Thị Chạn, Bàn Thị Nái, Phùng Thị Nghinh, Phùng Thị San. T, Nhất, X, Duyên, Sếnh, Chạn, Nái, Nghinh, San nhận thức được hành vi khai báo chưa đúng sự thật nên đã thay đổi toàn bộ lời khai, thành khẩn khai nhận nội dung vụ án như đã nêu trên.

Tại Biên bản xác định hiện trường lập ngày 12/10/2023 tại khu vực rừng sản xuất Lùng Duốc, thôn B L, xã Đ V, huyện Na Hang: xác định diện tích rừng BÀN X T và Bàn Thị Nhất nhờ Lý Thị X, Bàn Thị Duyên, Bàn Thị Sếnh, Triệu Thị Chạn, Bàn Thị Nái, Phùng Thị Nghinh, Phùng Thị San huỷ hoại rừng có diện tích là 2.930m2.

* Hành vi Huỷ hoại rừng tại Lô 10, khoảnh 483A, rừng sản xuất là rừng tự nhiên Lùng Duốc, thôn B L, xã Đ V, huyện Na Hang:

Khoảng cuối tháng 12/2021, BÀN THỊ X, do có nhu cầu lấy đất canh tác trồng hoa màu nên X đã đem theo 01 con dao quắm đi đến khu vực rừng sản xuất Lùng Duốc, thuộc thôn B L, xã Đ V, huyện Na Hang để chặt phát rừng. X một mình dùng dao chặt phát các cây chuối rừng, cây bụi, dây leo, các cây thân gỗ trong thời gian 05 buổi (nhiều ngày khác nhau) thì nghỉ. Sau đó, X thấy cơ quan Kiểm lâm huyện Na Hang đi tuần tra, kiểm tra khu vực rừng Lùng Duốc, lo sợ sẽ bị xử lý hình sự nên X đã nhờ cháu dâu là Phùng Hải Tuyền, sinh năm 1995; em gái Bàn Thị Phái, sinh năm 1974; bà Phùng Thị Nghim, sinh năm 1976, đều trú tại thôn B L, xã Đ V, huyện Na Hang, mỗi người nhận hộ một phần diện tích rừng do X huỷ hoại; Tuyền, Phái và Nghim đồng ý. X dẫn Tuyền, Phái và Nghim đến vị trí rừng đã chặt phá để chia ranh giới nhận hộ và khai báo với cơ quan Kiểm lâm. Đến tháng 4/2023, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm, X, Tuyền, Phái và Nghim đã đến cơ quan Kiểm lâm để khai báo đúng sự thật.

Cũng trong tháng 12/2021, Bàn Thị Pú, sinh năm 1961, trú tại thôn B L, xã Đ V, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang (là chị gái của BÀN THỊ X) tiến hành chặt phá rừng tại khu vực rừng sản xuất là rừng tự nhiên Lùng Duốc, vị trí giáp với khu vực BÀN THỊ X chặt phá. Bàn Thị Pú tự mình dùng dao chặt phá cây bụi, dây leo, cây gỗ nhỏ trong khoảng 02 ngày thì nghỉ. Sau đó Bàn Thị Pú đến gặp con trai là Chúc Càn Sú, sinh năm 1989, cư trú thôn B L, xã Đ V, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang bảo chia cho Sú một mảnh nương để trồng cây lâm nghiệp rồi dẫn Sú đi nhận rừng giáp với vị trí rừng Pú đã chặt phá. Khoảng 02 ngày sau, Chúc Càn Sú một mình mang theo 01 con dao đi chặt phá rừng. Quá trình Sú chặt phá rừng thì Bàn Thị Pú có nhờ Sú chặt hộ các cây to trên phần diện tích rừng Pú đã chặt phát. Sú một mình chặt phá phần rừng trong khoảng 04 ngày thì nghỉ. Sau đó, Sú sử dụng 01 máy cưa xăng để cắt hạ các cây gỗ lớn ở trên cả phần diện tích rừng của Sú và Pú đã chặt phá.

Sau khi việc chặt phá rừng tại khu vực Lùng Duốc bị Hạt Kiểm lâm huyện Na Hang phát hiện, do lo sợ bị xử lý hình sự nên Bàn Thị Pú và Chúc Càn Sú thống nhất nhờ người nhận hộ một phần diện tích bị chặt phá. Bàn Thị Pú đã nhờ La Thị Pú, sinh năm 1966 và Lý Thị Mụi, sinh năm 1993 (đều trú cùng thôn) nhận hộ một phần diện tích rừng đã chặt phá, Pú và Mụi đồng ý. Sau đó Pú và Sú dẫn La Thị Pú và Mụi đến vị trí rừng đã huỷ hoại để chia ranh giới. Tại Cơ quan Kiểm lâm, Bàn Thị Pú, Chúc Càn Sú, La Thị Pú, Lý Thị Mụi đã khai báo hành vi huỷ hoại rừng không đúng sự thật. Đến tháng 4/2023, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm, Bàn Thị Pú, Chúc Càn Sú, La Thị Pú, Lý Thị Mụi đã khai báo đúng sự thật.

Ngày 15/4/2023, Hạt kiểm lâm huyện Na Hang phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, xác định đối tượng rừng và loài cây: Vị trí BÀN THỊ X, Bàn Thị Pú, Chúc Càn Sú chặt, phá rừng trái phép là tại lô 10 khoảnh 483A, chức năng rừng tự nhiên, trạng thái TXP (rừng tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh phục hồi), thuộc khu vực rừng Lùng Duốc, thôn B L, xã Đ V, huyện Na Hang, trong đó:

+ Diện tích rừng do BÀN THỊ X huỷ hoại là 3.812m2; khối lượng lâm sản bị thiệt hại là 14,255m3 (gỗ từ nhóm VI- VIII).

+ Diện tích rừng cho Chúc Càn Sú huỷ hoại là 1.932m2; khối lượng lâm sản bị thiệt hại là 3,816m3 (gỗ từ nhóm VI- VIII).

+ Diện tích rừng cho Bàn Thị Pú huỷ hoại là 2.343m2; khối lượng lâm sản bị thiệt hại là 5,564m3 (gỗ từ nhóm VI- VIII).

Tại Kết luận định giá tài sản số: 19 ngày 17/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Na Hang, kết luận:

+ 259 đoạn gỗ tròn, từ nhóm VI-VIII, có tổng khối lượng 14,255 m3 do BÀN THỊ X chặt hạ trái phép có giá trị: 9.022.264 đồng.

+ 50 đoạn gỗ tròn, từ nhóm VI-VIII, tổng khối lượng 3,816m3 do Chúc Càn Sú chặt phá trái phép có giá trị 3.695.322 đồng.

+ 65 đoạn gỗ tròn, từ nhóm VI-VIII, có tổng khối lượng 5,564 m3 do Bàn Thị Pú chặt hạ trái phép có giá trị: 3.666.021 đồng.

- Tạm giữ của BÀN X T 01 máy cưa xăng, nhãn hiệu Husqvarna 365, màu sơn cam; lam xích máy cưa dài 50cm, rộng 07cm; 01 dao quắm chuôi gỗ dài 46cm; 01 máy phát cỏ không rõ nhãn hiệu, màu đỏ - đen; tạm giữ của Lý Thị X 01 con dao quắm chuôi gỗ, lưỡi dao bằng kim loại dài 33cm x rộng 4,0cm, chuôi gỗ dài 21cm; tạm giữ của Bàn Thị Nái 01 con dao quắm chuôi gỗ, lưỡi dao bằng kim loại dài 35cm x rộng 4,5cm, chuôi gỗ dài 24cm; tạm giữ của Phùng Thị San 01 con dao quắm chuôi gỗ, lưỡi dao bằng kim loại dài 31cm x rộng 3,5cm, chuôi gỗ dài 27cm; tạm giữ của Phùng Thị Nghinh 01 con dao quắm chuôi gỗ, lưỡi dao bằng kim loại dài 25cm x rộng 3,5cm, chuôi gỗ dài 23,5cm và 100.000 đồng; tạm giữ của Bàn Thị Sếnh 01 con dao quắm chuôi gỗ, lưỡi dao bằng kim loại dài 25cm x rộng 3,3cm, chuôi gỗ dài 18cm và 100.000 đồng; tạm giữ của Triệu Thị Chạn 01 con dao 01 con dao quắm chuôi gỗ, lưỡi dao bằng kim loại dài 33cm x rộng 4,0cm, chuôi gỗ dài 20,6cm và 100.000 đồng; tạm giữ của Bàn Thị Duyên 01 con dao quắm chuôi gỗ, lưỡi dao bằng kim loại dài 29cm x rộng 3,5cm, chuôi gỗ dài 17cm và số tiền 100.000 đồng; tạm giữ của Bàn Càn San 01 máy cưa xăng, nhãn hiệu Husqvarna 365, màu sơn cam; lam xích máy cưa dài 50cm, rộng 07cm;

- Tạm giữ của Chúc Càn Sú 01 máy cưa xăng, màu sơn cam, không nhãn hiệu (kèm theo lam xích máy cưa dài 55 cm, rộng 07cm; tạm giữ của La Thị Pú 01 con dao quắm chuôi gỗ, lưỡi dao bằng kim loại dài 28cm x rộng 4,5cm, chuôi gỗ dài 21cm; tạm giữ của Phùng Hải Tuyền 01 con dao quắm chuôi gỗ, lưỡi dao bằng kim loại dài 33cm x rộng 4,0cm, chuôi gỗ dài 25cm; tạm giữ của Phùng Thị Nghim 01 con dao quắm chuôi gỗ, lưỡi dao bằng kim loại dài 23cm x rộng 4,0cm, chuôi gỗ dài 22cm; tạm giữ của Bàn Thị Phái 01 con dao quắm chuôi gỗ, lưỡi dao bằng kim loại dài 26cm x rộng 4,0cm, chuôi gỗ dài 26cm; tạm giữ của BÀN THỊ X 01 con dao quắm chuôi gỗ, lưỡi dao bằng kim loại dài 36cm x rộng 4,0cm, chuôi gỗ dài 21cm;

Đối với 01 con dao quắm do La Thị Pú giao nộp là tài sản của Bàn Thị Pú đưa cho La Thị Pú giao nộp cho Cơ quan kiểm lâm. 01 con dao do Phùng Hải Tuyền giao nộp, 01 con dao do Bàn Thị Phái giao nộp và 01 con dao do Phùng Thị Nghim giao nộp là tài sản của BÀN THỊ X, do X đưa cho Tuyền, Phái, Nghim giao nộp.

Toàn bộ số lâm sản bị thiệt hại tại hiện trường, gồm 69,744m3 gỗ thông thường tại lô 8 và 23,635m3 gỗ thông thường tại lô 10, Hạt kiểm lâm huyện Na Hang đã giao cho Uỷ ban nhân dân xã Đ V, huyện Na Hang quản lý theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Uỷ ban nhân dân xã Đ V, huyện Na Hang không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại.

Tại Cơ quan điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình bị truy tố.

Tại bản cáo trạng số 40/CT- VKSNH ngày 14 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo BÀN X T về tội Hủy Hoại rừng theo quy định tại điểm đ khoản 2 điều 243 Bộ luật Hình sự; Bị cáo BÀN THỊ X về tội Hủy hoại rừng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo BÀN X T, bị cáo BÀN THỊ X phạm tội Hủy hoại rừng.

Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 243; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo BÀN X T 03 năm tù cho hưởng án treo thử thách 05 năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng: Điểm g khoản 1 Điều 243; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo BÀN THỊ X từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm.

Các bị cáo thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với các bị cáo.

Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu xung quỹ nhà nước của:

BÀN X T 01 máy cưa xăng, nhãn hiệu Husqvarna 365, màu sơn cam; lam xích máy cưa dài 50cm, rộng 07cm; 01 máy phát cỏ không rõ nhãn hiệu, màu đỏ - đen

Tịch thu, tiêu hủy của: Bàn Xuan T: 01 dao quắm chuôi gỗ dài 46cm;; Lý Thị X 01 con dao quắm; Bàn Thị Duyên 01 con dao quắm; Bàn Thị Sếnh 01 con dao quắm; Triệu Thị Chạn 01 con dao quắm; Bàn Thị Nái 01 con dao quắm; Phùng Thị San 01 con dao quắm; Phùng Thị Nghinh 01 con dao quắm; BÀN THỊ X 01 con dao quắm.

Trả lại Bàn Càn San 01 máy cưa xăng, nhãn hiệu Husqvarna 365, màu sơn cam; lam xích máy cưa dài 50cm, rộng 07cm.

Trả lại cho bị cáo BÀN THỊ X 03 con dao quắm do Phùng Hải Tuyền, Phùng Thị Nghim và Bàn Thị Phái giao nộp.

Trả lại số tiền 7.000.000đ cho bị cáo BÀN X T do bị cáo T tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Na Hang.

Trả lại cho chị Bàn Thị Duyên 100.000đ; chị Bàn Thị Sếnh 100.000 đồng; chị Triệu Thị Chạn 100.000 đồng và chị Phùng Thị Nghinh100.000 đồng.

Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, thường xuyên sinh sốngở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí nên được miễn toàn bộ án phí theo quy định của điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để quyết định về án phí;

Áp dụng các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên quyền kháng cáo đối với các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Người bào chữa cho bị cáo T đề nghị áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị xem xét thêm nhân thân bị cáo T có vợ đang mang thai 30 tuần, bị cáo là lao động chính. Đề nghị xử mức án nhẹ nhất và cho bị cáo hưởng án treo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo X đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nhân thân bị cáo là hộ nghèo nên không thể bồi thường phần dân sự của bản án xử năm 2013, bị cáo vừa bị tại nạn gãy xương đòn để xử ở mức khởi điểm của khung hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.

Các bị cáo thành khẩn khai báo, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án. Bị cáo T xin được nhận lại số tiền 7.000.000đ, bị cáo X xin được nhận lại 03 con dao; Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đề nghị lấy lại dao và không đề nghị lấy lại tiền (100.000đ)

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Na Hang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Hang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh bằng: Vật chứng thu giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận.

Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 11/2021 đến cuối tháng 12/2021, BÀN X T đã có hành vi sử dụng dao, máy phát cỏ chặt phá dây leo, cây bụi, cây thân gỗ nhỏ và sử dụng máy cưa xăng cắt hạ các cây thân gỗ tại Lô 8, khoảnh 483A, chức năng rừng sản xuất là rừng tự nhiên, trạng thái TXP (rừng tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh phục hồi) thuộc khu vực Lùng Duốc, thôn B L, xã Đ V, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, mục đích để lấy đất trồng cây lâm nghiệp; diện tích rừng bị huỷ hoại là 15.888m2.

Khoảng cuối tháng 12/2021, BÀN THỊ X (có 01 tiền án về tội Huỷ hoại rừng) đã có hành vi dùng dao chặt phá rừng trái phép tại lô 10, khoảnh 483A, chức năng rừng sản xuất là rừng tự nhiên, trạng thái TXP (rừng tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh phục hồi), thuộc khu vực rừng Lùng Duốc, thôn B L, xã Đ V, huyện Na Hang. Diện tích rừng do BÀN THỊ X huỷ hoại là 3.812m2.

Hành vi nêu trên của bị cáo BÀN THỊ X đã phạm vào tội Huỷ hoại rừng, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo BÀN X T đã phạm vào tội Huỷ hoại rừng, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 243 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Tính chất mức độ phạm tội; Vai trò của từng bị cáo; Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân từng bị cáo và quyết định hình phạt.

Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi hủy hoại rừng là vi phạm pháp luật nhưng do mục đích muốn có đất trồng cây lâm nghiệp nên vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội.

Trong vụ án này các bị cáo phạm tội độc lập – không phải là đồng phạm.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Các bị cáo cùng có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo đều là dân tộc thiểu số thường xuyên, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn; Bị cáo BÀN X T có được tặng kỷ niệm chương Cựu chiến binh và được tặng Giấy khen; có bố đẻ là ông Bàn Tiến Sênh tham gia dân công hoả tuyến; Bị cáo BÀN THỊ X có bố đẻ được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba; Đại diện của bị hại xin cho các bị cáo cải tạo tại địa phương, do đó Hội đồng xét xử xác định đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo BÀN X T và bị cáo BÀN THỊ X đều có đơn xin khắc phục hậu quả tuy nhiên theo kết quả xác minh của Hạt kiểm lâm huyện Na Hang thì diện tích rừng bị xâm hại đã tự tái sinh thành rừng nên không thể khắc phục;

Bị cáo T có nhân thân tốt; Bị cáo X có 01 tiền án nhưng được sử dụng là tình tiết định tội (Theo quy định của điểm b khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo thì cũng được coi là có nhân thân tốt). Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo T có vợ đang mang thai 30 tuần; Bị cáo X chồng đã chết và bị cáo bị tại nạn bị gãy xương đòn bên (Có xác nhận của Trung tâm y tế huyện Na Hang). Do đó không cần phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại nơi cư trú cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm chung và thể hiện tính nhân đạo của pháp luật hình sự xã hội chủ nghĩa.

Bị cáo T thuộc diện hộ nghèo cận nghèo; bị cáo X là hộ vừa thoát nghèo (Năm 2022 là hộ nghèo) nên không xử phạt bổ sung là phạt tiền các bị cáo.

Hình phạt, mức án do Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa là phù hợp. Bào chữa, đề nghị của Luật sư và trợ giúp viên về xem xét nhân thân bị cáo T (Có vợ mang thai tháng thứ 7), bị cáo X (Bị tai nạn gãy xương đòn) là phù hợp.

Bào chữa, đề nghị của Luật sư về mức án với bị cáo X là chưa phù hợp. Bào chữa đề nghị của trợ giúp viên về việc áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự với bị cáo T là không phù hợp vì bị cáo không phải bồi thường.

. Về biệp pháp tư pháp:

Số gỗ các bị cáo đã cưa, cắt còn tại hiện trường đã giao cho UBND xã Đ V quản lý là phù hợp. Đại diện UBND xã Đ V không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không phải xem xét, giải quyết.

Trả lại bị cáo BÀN X T số tiền 7.000.000đ do bị cáo nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Na Hang vì bị cáo không phải bồi thường.

Trả lại bị cáo BÀN THỊ X 03 con dao quắm do Phùng Hải Tuyền, Phùng Thị Nghim và Bàn Thị Phái giao nộp.

Trả lại anh Bàn Càn San 01 máy cưa xăng, nhãn hiệu Husqvarna 365, màu sơn cam; lam xích máy cưa dài 50cm, rộng 07cm.

Trả lại chị Bàn Thị Duyên 100.000đ, chị Bàn Thị Sếnh 100.000 đồng, chị Triệu Thị Chạn 100.000 đồng và chị Phùng Thị Nghinh 100.000 đồng.

Các vật chứng được cơ quan điều tra chuyển giao cho Chi cục Thi hánh án Dân sự huyện Na Hang được xử lý:

Tịch thu, xung quỹ nhà nước các công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội:

01 máy cưa xăng, nhãn hiệu Husqvarna 365, màu sơn cam; lam xích máy cưa dài 50cm, rộng 07cm; 01 dao quắm chuôi gỗ dài 46cm; 01 máy phát cỏ không rõ nhãn hiệu, màu đỏ - đen (Của BÀN X T); Lý Thị X 01 con dao quắm; Bàn Thị Duyên 01 con dao quắm; Bàn Thị Sếnh 01 con dao quắm; Triệu Thị Chạn 01 con dao quắm; Bàn Thị Nái 01 con dao quắm; Phùng Thị San 01 con dao quắm; Phùng Thị Nghinh 01 con dao quắm; BÀN THỊ X 01 con dao quắm;

. Về án phí, quyền kháng cáo:

Các bị cáo đều là dân tộc thiểu số, thường xuyên sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Các bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của các Điều 331, 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

. Các nội dung khác:

Đối với Bàn Thị Nhất: không có cơ sở xác định vai trò đồng phạm của Nhất đối với BÀN X T đối với toàn bộ diện tích rừng T đã huỷ hoại. Nhất chỉ có hành vi giúp sức cho BÀN X T trong việc huỷ hoại rừng bằng việc trực tiếp tham gia chặt, phá rừng và nhờ Lý Thị X, Bàn Thị Duyên, Bàn Thị Sếnh, Triệu Thị Chạn, Bàn Thị Nái, Phùng Thị Nghinh, Phùng Thị San giúp BÀN X T chặt, phá rừng đối với diện tích 2.930m2. Đối với Bàn Thị Pú có hành vi huỷ hoại rừng sản xuất với diện tích 2.343m2; Chúc Càn Sú có hành vi huỷ hoại rừng sản xuất với diện tích 1.932m2. Qua điều tra, Bàn Thị Nhất, Bàn Thị Pú và Chúc Càn Sú có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nên hành vi huỷ hoại rừng nêu trên không cấu thành tội phạm, chỉ dừng ở mức xử phạt vi phạm hành chính. Ngày 26/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Na Hang đã ban hành Công văn số 197 gửi Hạt kiểm lâm huyện Na Hang để xem xét xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền.

Đối với Lý Thị X, Bàn Thị Duyên, Bàn Thị Sếnh, Triệu Thị Chạn, Bàn Thị Nái, Phùng Thị Nghinh, Phùng Thị San, Bàn Càn San, Lý Thanh Quang, quá trình điều tra không có cơ sở xác định diện tích rừng mà từng cá nhân đã huỷ hoại là bao nhiêu; những người này đều không có tiền án, tiền sự gì; tại thời điểm Bàn Thị Nhất và BÀN X T nhờ đi chặt phát rừng thì những người này không biết là phá rừng trái pháp luật nên không có căn cứ xem xét xử lý.

Đối với hành vi khai báo, cung cấp thông tin không đúng sự thật của Lý Thị X, Bàn Thị Duyên, Bàn Thị Sếnh, Triệu Thị Chạn, Bàn Thị Nái, Phùng Thị Nghinh, Phùng Thị San: khi được BÀN X T và Bàn Thị Nhất nhờ nhận hộ một phần diện tích rừng huỷ hoại, những người này lo sợ sẽ bị xử lý hình sự do đã giúp T chặt, phá một phần diện tích rừng nên nhận lời. Phùng Thị Tuyền, Bàn Thị Phái, Phùng Thị Nghim, La Thị Pú, Lý Thị Mụi có hành vi khai báo không đúng sự thật đối với hành vi phạm tội của BÀN THỊ X, hành vi vi phạm của Bàn Thị Pú và Chúc Càn Sú. Đối chiếu với quy định của pháp luật, hành vi của những người này không cấu thành tội phạm Che giấu tội phạm, Không tố giác tội phạm hoặc Khai báo gian dối. Hành vi của Lý Thị X, Bàn Thị Duyên, Bàn Thị Sếnh, Triệu Thị Chạn, Bàn Thị Nái, Phùng Thị Nghinh, Phùng Thị San, Phùng Thị Tuyền, Bàn Thị Phái, Phùng Thị Nghim, La Thị Pú, Lý Thị Mụi là hành vi vi phạm hành chính Báo thông tin giả, cung cấp thông tin sai sự thật đến cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, đến nay đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính (Hành vi xảy ra từ tháng 12/2021 đến tháng 3/2022) nên không đề cập xử lý.

Quá trình khám nghiệm hiện trường, phát hiện 03 đoạn đường được cuốc mở làm biến dạng địa hình. Đoạn đường thứ nhất dài 87,7m, rộng trung bình 3,6m, tổng diện tích 315,72m2; Đoạn đường thứ hai dài 535m, rộng trung bình 4,5m tổng diện tích 2.407,5m2; Đoạn đường thứ ba dài 42,6m, rộng trung bình 4,5m, tổng diện tích 191,7m2. Những đoạn đường trên do BÀN X T thuê máy cuốc của ông Bàn Tiến Quân để mở đường. Trong 03 ngày từ ngày 15/12/2021-17/12/2021, Hà Văn Kim, là người lái máy cuốc thuê cho Bàn Tiến Quân đã thực hiện việc cuốc mở đường xong theo chỉ dẫn của T. Tổng diện tích đất bị hủy hoại của cả ba đoạn đường là 2.914,92m2. Hành vi tự ý cuốc mở đường vào rừng sản xuất nói trên của BÀN X T đã làm biến dạng địa hình có dấu hiệu vi phạm hành chính Hủy hoại đất quy định tại Điểm c, Khoản 1, Điều 15 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP, ngày 19/11/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, thuộc thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính và xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Na Hang. Ngày 26/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Na Hang ban hành văn bản gửi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Na Hang để xem xét, xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra còn xác định tại thời điểm Bàn Thị Nhất (vợ của BÀN X T, sinh ngày 27/5/1984), sinh con lần đầu vào ngày 23/12/2000, Nhất có độ tuổi là 16 tuổi 06 tháng 26 ngày; hành vi của BÀN X T có dấu hiệu Giao cấu với trẻ em, tuy nhiên đến nay đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên không đề cập xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo BÀN X T, BÀN THỊ X phạm tội Hủy hoại rừng.

Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 243; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo BÀN X T 03 (Ba) năm tù cho hưởng án treo, thử thách 05 (Năm) năm. Hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 11/12/2023).

Căn cứ: Điểm g khoản 1 Điều 243; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo BÀN THỊ X 01 (một) năm 03 (Ba) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 02 (Hai) 06 (Sáu) tháng. Hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 11/12/2023).

Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ V, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật Thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo đã bị kiểm điểm theo quy định tại Điều 91 của Luật Thi hành án Hình sự nhưng sau khi kiểm điểm vẫn tiếp tục vi phạm và đã được nhắc nhở bằng văn bản mà vẫn cố ý vi phạm thì có thể bị Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Trả lại bị cáo BÀN X T số tiền 7.000.000đ do bị cáo nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Na Hang theo biên lai thu tiền số 0000659 ngày 15/11/2023.

Trả lại anh Bàn Càn San 01 máy cưa xăng, nhãn hiệu Husqvarna 365, màu sơn cam; lam xích máy cưa dài 50cm, rộng 07cm.

Trả lại chị Bàn Thị Duyên 100.000đ (Một trăm nghìn đồng), chị Bàn Thị Sếnh 100.000đ (Một trăm nghìn đồng), chị Triệu Thị Chạn 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) và chị Phùng Thị Nghinh 100.000đ (Một trăm nghìn đồng).

Trả lại cho bị cáo BÀN THỊ X 03 con dao quắm do Phùng Hải Tuyền, Phùng Thị Nghim và Bàn Thị Phái giao nộp.

Tịch thu, xung quỹ nhà nước:

01 máy cưa xăng, nhãn hiệu Husqvarna 365, màu sơn cam; lam xích máy cưa dài 50cm, rộng 07cm; 01 dao quắm chuôi gỗ dài 46cm; 01 máy phát cỏ không rõ nhãn hiệu, màu đỏ - đen thu giữ của BÀN X T; 01 con dao quắm thu giữ của Lý Thị X; 01 con dao quắm thu giữ của Bàn Thị Duyên; 01 con dao quắm thu giữ của Bàn Thị Sếnh; 01 con dao quắm thu giữ của Triệu Thị Chạn; 01 con dao quắm thu giữ của Bàn Thị Nái; 01 con dao quắm thu giữ của Phùng Thị San; 01 con dao quắm thu giữ của Phùng Thị Nghinh đồng; 01 con dao quắm thu giữ của BÀN THỊ X.

(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 20/11/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Na Hang với Chi cục thi hành án dân sự huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang).

Số tiền thu giữ đang được quản lý tại tài khoản của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Na Hang mở tại kho bạc nhà nước huyện Na Hang theo Giấy nộp tiền số 167/ĐTTH ngày 27/9/2023.

3. Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo BÀN X T và bị cáo BÀN THỊ X được miễn toàn bộ án phí.

4. Căn cứ các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ