vanban.org

Bản án 43/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Tuyên án 21/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Doãn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Doãn C 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/4/2023. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Doãn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÝ NHÂN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2023/HS-ST
Ngày: 21/7/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hân.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quốc Tuấn và bà Trần Thị Ngọc.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Thành Trung - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Đinh Huy Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2023, đối với bị cáo:

Trần Doãn C, sinh năm 1994 tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn Đ, xã, huyện L, tỉnh H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Doãn C1 và bà Trần Thị S; có vợ là Tạ Thị Q và có 03 con, (lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2018); Tiền án: Không

Tiền sự: Ngày 24/11/2020, Tòa án nhân dân huyện L ra quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm điều trị nghiện ma túy và phục hồi chức năng tâm thần tỉnh H, thời gian 24 tháng, chấp hành xong ngày 24/11/2022

Nhân thân:

+ Ngày 02/9/2008, Công an huyện L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” bằng hình thức “Cảnh cáo”;

+ Ngày 27/5/2020 Công an huyện L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” bằng hình thức “Phạt tiền”, số tiền phạt 1.000.000đồng, đã nộp phạt ngày 02/6/2020;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 03/4/2023 đến ngày 09/4/2023 chuyển tạm giam đến nay; có mặt.

- Người làm chứng: Ông Trương Hữu N.

- Người chứng kiến: Ông Cao Văn Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 03/4/2023, Tổ công tác của Công an xã B, huyện L , tỉnh H làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực trục đường bê tông thuộc thôn N, xã B, huyện L, tỉnh H phát hiện Trần Doãn C có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra hành chính thì thu giữ trong lòng bàn tay phải của C đang cầm 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có chứa hai gói giấy bạc mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, mở ra bên trong có chất bột dạng cục màu trắng. Tại chỗ C khai là 02 gói ma túy, loại Heroine, đang cất giữ để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Doãn C và thu giữ, niêm phong 02 gói chất bột dạng cục màu trắng nêu trên trong phong bì ký hiệu "QT".

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Doãn C, Cơ quan điều tra không thu giữ tài liệu, đồ vật gì liên quan đến vụ án.

Tại Bản kết luận giám định số 184/KL-KTHS ngày 06/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H kết luận:“Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,171g loại: Heroine”.

Về nguồn gốc chất ma túy đã thu giữ, Trần Doãn C khai: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 03/4/2023 C đi nhờ xe môtô của một người đi đường đến khu vực ngã tư thôn N, xã B, huyện L, tỉnh H thì xuống xe đi bộ vào khu vực đình thôn N mua của một đối tượng nam giới (không biết tên, địa chỉ) 02 gói ma túy loại Heroine được bỏ vào trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long với số tiền 300.000 đồng rồi cầm trên tay phải đi tìm chỗ để sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.

Về vật chứng vụ án: Số Heroine còn lại sau giám định do Cơ quan giám định hoàn trả được niêm phong trong phong bì số 184/KL-KTHS ghi “mẫu vật hoàn trả QT” là chất thuộc danh mục Nhà nước độc quyền quản lý, cấm tàng trữ lưu hành được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện L.

Quá trình điều tra: Trần Doãn C đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện.

Tại bản cáo trạng số 37/CT-VKSLN ngày 19/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, truy tố Trần Doãn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Trần Doãn C từ 27 (Hai mươi bảy) tháng đến 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đồng thời đề xuất hướng xử lý vật chứng hiện đang thu giữ và án phí vụ án.

Bị cáo Trần Doãn C khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân đã truy tố; không có ý kiến tranh luận, bào chữa hay khiếu nại gì và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, khách quan.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu được, kết luận giám định về ma tuý và các tài liệu, chứng cứ khác lưu trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ ngày 03/4/2023, tại thôn N, xã B, huyện L, tỉnh H; Trần Doãn C đang cất giữ trái phép 02 gói Heroine có khối lượng 0,171 gam trong lòng bàn tay phải với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác của Công an xã B, huyện L, tỉnh H phát hiện bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Doãn C đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo là có căn cứ đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu có tiền sự đi cai nghiện bắt buộc; nhiều lần bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt quyền sở hữu tài sản của người khác.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào của vụ án.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, Trần Doãn C đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, đồng thời thể hiện sự ăn năn hối cải trước pháp luật, mong muốn được sửa chữa lỗi lầm - Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự

Về hình phạt:

- Về hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể cải tạo được bị cáo, đồng thời có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo yên tâm chấp hành án, sớm hoà nhập cộng đồng xã hội, đồng thời cũng thấy được tính nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội.

- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội không nhằm mục đích thu lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số ma tuý hoàn lại trong phong bì số 184/KL-KTHS ghi “Mẫu vật hoàn trả QT” là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu và tiêu huỷ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Trần Doãn C như C đã khai, do chỉ có duy nhất lời khai của bị cáo và thông tin không đầy đủ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lý Nhân không có căn cứ điều tra, làm rõ để xử lý về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Doãn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Doãn C 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/4/2023.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu và tiêu huỷ: 01 (Một) phong bì niêm phong có số 184/KL-KTHS ghi “Mẫu vật hoàn trả QT”.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Lý Nhân với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân ngày 20/6/2023)

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Doãn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ