- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Hoán - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2023/HS-ST Ngày 21 – 6 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Học
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Trọng Vĩnh
2. Ông Nguyễn Chí Vương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Chang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai, bằng hình thức trực tuyến với 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại Hội trường xét xử A - Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước và điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ - Công an huyện H, tỉnh Bình Phước vụ án hình sự thụ lý số 38/2023/HSST ngày 22/5/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2023/QĐXXST-HS ngày 07/6/2023 đối với bị cáo:
Lê Văn H, Sinh năm 1967 tại: tỉnh Thanh Hóa.
Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không;; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Thu mua phế liệu; Trình độ học vấn: 7/12; Nơi đăng ký HKTT: thôn 5, xã D, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng Chỗ ở: thôn 5, xã D, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; con ông Lê Văn H(đã chết) và bà Lê Thị L(đã chết); Bị cáo có 06 anh, chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1957, nhỏ nhất sinh năm 1979; Bị cáo có vợ: Lê Thị H1sinh năm 1969 và có 02 người con lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 1996.
Tiền án, tiền sự: Không
Về nhân thân:
- Ngày 02/3/2005, bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 22/HSST.
- Ngày 21/9/2005, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo Bản án số: 241/HSST.
- Ngày 12/6/2013, bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 26 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 30/HSST.
- Ngày 23/9/2016, bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 27/HSST.
Ngày 06/12/2022 có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị bắt quả tang, đến ngày 13/12/2022 bị khởi tố vụ án, khởi tố bị can và tạm giam cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ - Công an huyện H, tỉnh B Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tóm tắt nội dung vụ án như sau:
Lê Văn H bắt đầu sử dụng ma túy tổng hợp dạng đá từ năm 2018, nguồn ma túy do H mua của một số đối tượng không rõ lai lịch ngoài xã hội.
Sáng ngày 05/12/2022, H đi xe khách từ xã D, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng đến chỗ vợ Lê Thị H1đang ở tại khu vực chợ đầu mối T thuộc khu phố 3, phường B, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh để lấy xe ôtô tải biển kiểm soát 51C-805.42 của bà H1 làm phương tiện đi thu mua phế liệu ở tỉnh Bình Phước. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày H đi tới khu vực ngã tư B Phước, mua một gói ma túy tổng hợp dạng đá của một nam thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) với giá 300.000đ rồi cất ma túy vào trong ví da. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, H đi đến bãi giữ xe lấy xe ôtô biển kiểm soát 51C-805.42 và để ví da có chứa 01 gói ma túy vào khe hở bên dưới ghế tài trong cabin xe. Sau đó, H điều khiển xe ôtô đi đến thị xã B1, tỉnh Bình Dương, dừng xe và gọi điện thoại cho Lê Văn B rủ đi lên tỉnh Bình Phước mua phế liệu thì B đồng ý. Trong thời gian chờ B đến, H lấy một ít ma túy trong gói ma túy đã mua ra sử dụng một mình trên xe ôtô, số ma túy còn lại H để vào ví da cất bên dưới khe hở của ghế chỗ H ngồi. Khoảng 30 phút thì B ra, H cất nỏ và số ít ma túy còn dính trong nỏ vào hộp đựng dụng cụ sử dụng ma túy để ở bên cạnh chỗ ngồi. Sau đó H điều khiển xe ôtô chở B đi theo đường Quốc lộ 13 về hướng huyện H, tỉnh Bình Phước. Khoảng 00h00 ngày 06/12/2022 khi đi đến tổ 03, khu phố 1, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước, H tiếp tục lấy số ma túy còn sót lại trong nỏ thủy tinh ra sử dụng một mình trên cabin xe ôtô rồi nằm nghỉ. Đến 00 giờ 30 phút ngày 06/12/2022, H và B đang nghỉ ngơi trong cabin xe ôtô thì bị Công an huyện H kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện thu giữ 01 gói ma túy đá trong ví da của H nên đã lập biên bản phạm tội quả tang.
Căn cứ Kết luận giám định số: 286/2022/GĐ-MT ngày 09/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước kết luận: Chất dạng tinh thể màu trắng (ký hiệu M) đựng trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,2423g.
Vật chứng đã thu giữ:
- 01 gói ma túy ( ký hiệu M) đã được niêm phong trong bì thư.
- 01 xe ôtô tải hiệu KIA màu trắng, biển số: 51C – 805.42, số máy: JT503900, số khung: KNCWE011247032107.
- 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy A03 màu đen, số sêri: R9HT40AY64A và số tiền 2.500.000đ .
- 01 kéo nhấp bằng kim loại; 01 nắp chai nhựa màu đỏ, có đục hai lỗ tròn; 02 đoạn ống hút nhựa màu xanh đều được cắt vát nhọn một đầu; 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh; 02 ống hút nhựa màu đen có cùng kích thước dài 17cm; 03 nỏ thủy tinh trong suốt; 01 quẹt ga màu xanh – trắng hiệu Hoa Việt, 01 quẹt ga màu xanh – trắng không nhãn mác; 01 thẻ thanh toán Sacombank mang tên LE VAN HOAN; 01 vỏ gói nylon màu vàng xanh hiệu Bio Peeling.
- Tại bản Cáo trạng số 43/CT-VKS ngày 22 tháng 5 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố Lê Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H giữ nguyên truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù.
Về xử lý vật chứng:
- Số ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định là 0,1899 gam, được niêm phong trong một bì thư (ký hiệu M). đây là vật cấm tàng trữ lưu hành, do vậy đề nghị Tòa tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với xe ôtô tải biển kiểm soát: 51C – 805.42, số máy: JT503900, số khung: KNCWE011247032107. Quá trình điều tra xác định xe ôtô trên do bà Lê Thị Hương, sinh năm 1969, HKTT: 20/30/16D, khu phố 3, P.B, Tp.T, Tp.Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu. Xe trên do bà H1 mua lại tại một cửa hàng bán xe cũ ở tỉnh B Dương vào thời gian giữa năm 2022 với giá 120.000.000đ. Sau khi mua xe ôtô trên bà H1 làm thủ tục đứng tên chủ sở hữu xe và giao xe cho ông Lê Văn H sử dụng làm phương tiện đi làm. Việc Lê Văn H mua và cất giấu ma túy trên xe ôtô để sử dụng bà H1 không biết, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe ôtô trên cho bà Lê Thị H1 nên không đề cập đến.
- 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy A03 màu đen, số sêri: R9HT40AY64A và số tiền 2.500.000đ. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản cá nhân của Lê Văn H, không liên quan đến vụ án đề nghị Tòa tuyên trả lại cho H.
- 01 kéo nhấp bằng kim loại; 01 nắp chai nhựa màu đỏ, có đục hai lỗ tròn; 02 đoạn ống hút nhựa màu xanh đều được cắt vát nhọn một đầu; 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh; 02 ống hút nhựa màu đen có cùng kích thước dài 17cm; 03 nỏ thủy tinh trong suốt; 01 quẹt ga màu xanh – trắng hiệu Hoa Việt, 01 quẹt ga màu xanh – trắng không nhãn mác; 01 thẻ thanh toán Sacombank mang tên LE VAN HOAN; 01 vỏ gói nylon màu vàng xanh hiệu Bio Peeling đã thu giữ trong quá trình bắt quả tang hiện không có giá trị sử dụng. đề nghị Tòa án nhân dân tuyên tuyên tịch thu, tiêu hủy.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái nên mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, tỉnh B Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma tuý, 13 giờ chiều ngày 05/12/2022, Lê Văn H đã tới khu vực ngã tư Bình Phước, mua một gói ma túy tổng hợp dạng đá của một nam thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) với giá 300.000đ rồi cất ma túy vào trong ví da và bị phát hiện bắt quả tang tại tổ 3, khu phố 1, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước. Qua giám định xác định số ma túy H tàng trữ có trọng lượng là 0,2423gam chất ma túy loại Methamphetamine.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với Biên bản bắt quả tang, Kết luận giám định, phù hợp với lời khai khác và vật chứng của vụ án. Như vậy, có căn cứ xác định hành vi mua ma túy và cất giấu chất ma túy nhằm mục đích sử dụng của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 43/CT-VKS ngày 22 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, phù hợp pháp luật.
Hành vi của bị cáo Lê Văn H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ việc tàng trữ ma túy là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do bản thân bị cáo nghiện ma túy và mong muốn thỏa mãn nhu cầu của bản thân với ma túy nên bị cáo đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân rất xấu: Bị cáo từng có 04 lần bị kết án: Ngày 02/3/2005, bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số: 22/HSST; Ngày 21/9/2005, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo Bản án số: 241/HSST; Ngày 12/6/2013, bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 26 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số: 30/HSST; Ngày 23/9/2016, bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số: 27/HSST. Tuy đã chấp hành xong các bản án nêu trên và được xoá án tích, nhưng bị cáo lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trử trái phép chất ma túy để sử dụng, cho thấy bị cáo là người có ý thức coi thường pháp luật, không tự rèn luyện, tu dưỡng bản thân. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm; cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội sau này và phòng ngừa chung.
Đối với người thanh niên (không rõ nhân thân) đã bán cho H 01 gói ma túy để về sử dụng, quá trình điều tra đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch của người này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào làm rõ được sẽ xem xét xử lý sau.
Đối với B là người đi chung xe với H, tuy nhiên quá trình đi xe chung từ B1, Bình Dương đến huyện H, tỉnh Bình Phước, B không biết H mang theo ma túy, đồng thời khi xét nghiệm B âm tính với ma túy nên không đủ cơ sở để khởi tố B với vai trò đồng phạm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy với H.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần xem xét:
- Tịch thu tiêu huỷ:
Số ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định là 0,1899 gam, được niêm phong trong một bì thư (ký hiệu M), đây là vật cấm tàng trữ lưu hành.
01 kéo nhấp bằng kim loại; 01 nắp chai nhựa màu đỏ, có đục hai lỗ tròn; 02 đoạn ống hút nhựa màu xanh đều được cắt vát nhọn một đầu; 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh; 02 ống hút nhựa màu đen có cùng kích thước dài 17cm; 03 nỏ thủy tinh trong suốt; 01 quẹt ga màu xanh – trắng hiệu Hoa Việt, 01 quẹt ga màu xanh – trắng không nhãn mác; 01 thẻ thanh toán Sacombank mang tên LE VAN HOAN; 01 vỏ gói nylon màu vàng xanh hiệu Bio Peeling đã thu giữ trong quá trình bắt quả tang hiện không có giá trị sử dụng.
- Hoàn trả lại cho bị cáo H: 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy A03 màu đen, số sêri: R9HT40AY64A và số tiền 2.500.000đ. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản cá nhân của Lê Văn H, không Lquan đến vụ án.
[7] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Lê Văn H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 06/12/2022.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo thi hành án.
3.Về án phí sơ thẩm: Áp dụng các điều 23 và 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Buộc bị cáo Lê Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ:
Số ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định là 0,1899 gam, được niêm phong trong một bì thư (ký hiệu M), đây là vật cấm tàng trữ lưu hành.
01 kéo nhấp bằng kim loại; 01 nắp chai nhựa màu đỏ, có đục hai lỗ tròn; 02 đoạn ống hút nhựa màu xanh đều được cắt vát nhọn một đầu; 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh; 02 ống hút nhựa màu đen có cùng kích thước dài 17cm; 03 nỏ thủy tinh trong suốt; 01 quẹt ga màu xanh – trắng hiệu Hoa Việt, 01 quẹt ga màu xanh – trắng không nhãn mác; 01 thẻ thanh toán Sacombank mang tên LE VAN HOAN; 01 vỏ gói nylon màu vàng xanh hiệu Bio Peeling đã thu giữ trong quá trình bắt quả tang hiện không có giá trị sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo Lê Văn H: 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy A03 màu đen, số sêri: R9HT40AY64A và số tiền 2.500.000đ. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản cá nhân của Lê Văn H, không Lquan đến vụ án.
( Vật chứng vụ án theo mô tả tại Quyết định chuyển vật chứng số 32/QĐ-VKS ngày 22/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước và Biên bản giao nhận vật chứng số 0005907 ngày 24/5/2023 giữa Công an huyện H và Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bình Phước).
Vật chứng khác của vụ án đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện H xử lý đúng quy định nên không tiếp tục xem xét.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - VKSND tỉnh Bình Phước; - Phòng HSNV – CAT.Bình Phước; - VKSND huyện H; - Công an huyện H; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước; - Chi cục THADS huyện H; - Bị cáo; - Lưu: TA, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Đình Học |