vanban.org

Bản án 43/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội Tuyên án 05/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: 1. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang Huy - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN G
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 43/2023/HS-ST
Ngày 05/04/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Như Trọng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Nga;

Bà Nguyễn Thị Hồng Ninh.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đạt – Thư ký Toà án nhân dân Huyện G, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện G, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông PH3 Xuân Dũng – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 04 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 03 năm 2023 theo Quyết định đưa ra xét xử số 33/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 03 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Quang H, sinh năm 1997; đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn ĐX, xã ĐT, huyện G, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; họ tên cha: Nguyễn Văn N, sinh năm 1970; họ tên mẹ: Nguyễn Thị V, sinh năm 1978; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; tiền án, tiền sự: 01 tiền án, Bản án số 26/2020/HSST ngày 24/08/2020 của Tòa án nhân dân Huyện V, tỉnh Hưng Yên, xử phạt Nguyễn Quang H 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/07/2021, chưa được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 26/12/2022, đến ngày 05/01/2023 cHển tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an thành phố Hà Nội, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Dương Chính H, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn 7, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội, vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 26/12/2022, Công an xã Đ phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy, Công an huyện G làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực thôn 7, xã Đ, Huyện G, Hà Nội phát hiện bắt quả tang Nguyễn Quang H, sinh năm: 1997; ĐKHKTT: Thôn ĐX, xã ĐT, Huyện G, Hà Nội đang có hành vi bán ma túy cho đối tượng Dương Chính H, sinh năm: 1993; ĐKHKTT: Thôn 7, xã Đ, Huyện G, Hà Nội. Tổ công tác đã thu giữ vật chứng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa các đối tượng về trụ sở làm việc.

Vật chứng thu giữ của Nguyễn Quang H: 01 (một) túi nilong màu trắng, kích thước (3x6)cm bên trong có chứa 03 viên nén màu hồng, hình trái tim; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đỏ BKS: 30L4-7954, số khung: RLHHC12199Y225523, số máy: HC12E-1426284; 01 điện thoại di động OPPO A57 màu trắng đã qua sử dụng có số IMEI 1: 865257039428933.

Thu giữ của đối tượng Dương Chính H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92, màu xanh đen, đã qua sử dụng, máy có số Imei; 867511051364139; tiền mặt 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Ngày 27/12/2022, Cơ quan điều tra đã ra lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Quang H tại thôn ĐX, xã ĐT, Huyện G, thành phố Hà Nội nhưng không phát hiện, thu giữ gì liên quan đến vụ án.

Tại Kết luận giám định số 49/KLGĐ-PC09 ngày 03/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: 03 viên nén màu hồng hình trái tim bên trong 01 túi nilong đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 1,021 gam.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Quang H và đối tượng Dương Chính H khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 26/12/2022, Dương Chính H gọi điện thoại qua Facebook tên tài khoản là “P” để hỏi mua của H 03 viên ma túy tổng hợp với giá 900.000 đồng, H đồng ý bán và hẹn khoảng 19 giờ ngày 26/12/2022 sẽ giao ma túy cho H2. Sau đó, H sử dụng điện thoại gọi cho đối tượng tên H3, trú tại khu vực gần Ủy ban nhân dân phường BĐ, quận LB, Hà Nội để mua của H3 03 viên ma túy tổng hợp với giá 750.000 đồng. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 26/12/2022, đối tượng H3 đến giao ma túy cho H và thỏa thuận thu tiền qua tài khoản. Sau khi mua được ma túy của H3, H mang về nhà cất giấu. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 26/12/2022, H2 gọi điện cho H để mua ma túy, do không có xe máy nên H2 hẹn H mang ma túy đến đầu ngõ nhà H2 ở thôn 7, xã Đ, H G, Hà Nội để giao dịch. H đồng ý và lấy số ma túy mua của H3 cất vào túi quần bên trái đang mặc, sau đó điều khiển xe máy BKS: 30L4-7954 đến nơi hẹn để bán ma túy cho H2, khi đến nơi gặp H2 và dừng xe, H cầm ma túy ở lòng bàn tay trái định bán cho H2 thì bị lực lượng công an bắt quả tang nên H đã làm rơi túi nilong bên trong có 03 viên ma túy tổng hợp màu hồng, hình trái tim xuống đất ngay tại vị trí H đứng.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Nguyễn Quang H, theo lời khai của H thể hiện tên là H3, trú tại khu vực gần Ủy ban nhân dân phường BĐ, quận LB, Hà Nội. Cơ quan CSĐT - Công an huyện G đã phối hợp với Công an phường BĐ đã tiến hành rà soát nhưng không phát hiện đối tượng nào tên là H3 có đặc điểm nhận dạng phù hợp nhà ở khu vực Ủy ban nhân dân phường BĐ. Do không xác định được nhân thân nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Đối với đối tượng Dương Chính H là người mua ma túy của H nhưng chưa nhận được ma túy, qua xét nghiệm âm tính với chất ma túy nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với Dương Chính H.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đỏ BKS: 30L4-7954, số khung: RLHHC12199Y225523, số máy: HC12E-1426284 thu giữ của H. Qua điều tra xác định người đứng tên đăng ký xe là Trần H P, sinh năm: 1959; ĐKHKTT: Tổ 7, SĐ, LB, Hà Nội. Năm 2019, ông P đã bán chiếc xe máy trên cho ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1970; ĐKHKTT: ĐX, ĐT, G, Hà Nội (là bố đẻ của H). Ngày 26/12/2022, ông N cho H mượn, không biết H sử dụng xe vào việc mua bán trái phép chất ma túy. Theo kết quả tra cứu xe máy vật chứng của Công an huyện G thì chiếc xe máy nói trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Do vậy, ngày 03/03/2023, Cơ quan CSĐT - Công an Huyện G đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe máy trên cho ông Nguyễn Văn N. Ông N đã nhận lại tài sản và không có ý kiến đề nghị gì.

Đối với 01 điện thoại di động OPPO A57, màu trắng, đã qua sử dụng có số IMEI 1: 865257039428933 thu giữ của H. Qua điều tra xác định thuộc sở hữu của H, ngày 26/12/2022 H sử dụng để liên hệ mua bán ma túy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92, màu xanh đen, đã qua sử dụng, máy có số Imei; 867511051364139 và số tiền 300.000 đồng, qua điều tra xác định thuộc sở hữu của H2 và được H2 sử dụng vào việc mua bán ma túy.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Quang H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 42/CT-VKSGL ngày 21 tháng 03 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân Huyện G truy tố bị cáo Nguyễn Quang H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân Huyện G tham gia phiên tòa luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng; sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Quang H từ 30 tháng đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2022; không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu huỷ số ma túy thu giữ của bị cáo; tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động OPPO A57, màu trắng, đã qua sử dụng có số IMEI 1: 865257039428933 thu giữ của bị cáo Nguyễn Quang H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92, màu xanh đen, đã qua sử dụng, máy có số Imei; 867511051364139 và số tiền 300.000 đồng thu giữ của Dương Chính H là phương tiện, tiền bạc liên quan đến hành vi phạm tội.

Cơ quan điều tra Công an Huyện G đã trao trả 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đỏ BKS: 30L4-7954, số khung: RLHHC12199Y225523, số máy: HC12E-1426284 thu giữ của bị cáo cho ông Nguyễn Văn N là phù hợp quy định của pháp luật.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, bị cáo không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Huyện G và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện G và Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Anh Dương Chính H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng trước đó đã có lời khai đầy đủ tại Cơ quan điều tra. Xét thấy việc vắng mặt của anh H2 không gây trở ngại cho việc xét xử. Theo quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh H2.

Về hành vi phạm tội và tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người liên quan, lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 21 giờ ngày 26/12/2022, tại khu vực thôn 7, xã Đ, huyện G, Hà Nội, Nguyễn Quang H có hành vi tàng trữ 1,021 gam ma túy MDMA để bán cho đối tượng Dương Chính H thu lời, thì bị Cơ quan Công an huyện G phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý Nhà nước đối với các chất ma tuý. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân Huyện G truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo:

Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội. MDMA là chất ma tuý rất độc hại, tàn phá và huỷ hoại sức khoẻ con người, là một trong những nguyên nhân chính phát sinh ra các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác trong đời sống xã hội. Trong những năm qua, tội phạm về ma tuý trên địa bàn thành phố Hà Nội diễn biến rất phức tạp, Nhà nước, các cấp chính quyền và Đoàn thể rất quan tâm và nỗ lực tuyên truyền, giáo dục về tác hại của ma tuý, kêu gọi toàn dân tích cực tham gia phòng chống tệ nạn về ma tuý và tội phạm may tuý. Bị cáo nhận thức được đầy đủ về tác hại của ma tuý nhưng vẫn tham gia mua bán trái phép nên cần thiết phải xử lý nghiêm minh để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung; góp phần đấu tranh phòng chống tệ nạn và các tội phạm về ma tuý trong đời sống xã hội.

Về nhân thân bị cáo: Năm 2020, bị cáo Nguyễn Quang H bị kết án tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, nhưng trong thời gian thử thách lại tiếp tục phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Như vậy, thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, đã được các cơ quan pháp luật giáo dục, cải tạo, khi trở về nơi cư trú không cố gắng rèn luyện bản thân, hòa nhập cộng đồng, mà lại tiếp tục phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Như vậy, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Tại Bản án số 26/2020/HSST ngày 24/08/2020 của Tòa án nhân dân Huyện V, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Quang H bị xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/07/2021, chưa được xóa án tích, bị cáo lại phạm tội mới với lỗi cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm” theo quy định tại khoản 1 Điều 53 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, bị cáo H bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tổng hợp nhận định ở trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian bằng việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn để đảm bảo việc răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân huyện G tại phiên toà là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên toà thể hiện: Bị cáo là người nghiện ma túy, là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động OPPO A57, màu trắng, đã qua sử dụng có số IMEI 1: 865257039428933 thu giữ của bị cáo Nguyễn Quang H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92, màu xanh đen, đã qua sử dụng, máy có số Imei; 867511051364139 và số tiền 300.000 đồng thu giữ của Dương Chính H là phương tiện, tiền bạc liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Cơ quan điều tra Công an huyện G đã xử lý các vật chứng khác theo thẩm quyền, nay không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Bị cáo phạm tội phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Về các nội dung khác:

Đối với đối tượng tên là “H3” bán ma túy cho Nguyễn Quang H, do không xác định được nhân thân, Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xác minh, xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Dương Chính H do chưa mua được ma tuý của H, qua xét nghiệm âm tính với các chất ma túy, Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý đối với Dương Chính H nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

2.1. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2022.

2.2. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

3.1. Tịch thu, tiêu huỷ: 03 (Ba) viên nén màu hồng, hình trái tim bên trong 01 túi nilông đều là ma túy loại MDMA, có tổng khối lượng 0,678 gam (đã trừ trích mẫu để giám định 0,343 gam) thu giữ của bị cáo Nguyễn Quang H, đựng trong 01 phong bì niêm phong dán kín, bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Quang H, cán bộ Công an xã Đ và Giám định viên, do Phòng PC09 - Công an thành phố Hà Nội hoàn lại sau giám định;

3.2. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động OPPO A57, màu trắng, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Nguyễn Quang H;

3.3. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động OPPO A92, màu xanh đen, đã qua sử dụng thu giữ của Dương Chính H;

(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an Huyện G và Chi cục Thi hành án dân sự Huyện G ngày 21/03/2023).

3.3. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 300.000 đồng thu giữ của Dương Chính H.

(Số tiền 300.000 đồng hiện Chi cục Thi hành án dân sự Huyện G đang quản lý theo Biên lai thu tiền số AA/2020/0055330 ngày 24/03/2023).

Cơ quan điều tra Công an Huyện G đã xử lý các vật chứng khác theo thẩm quyền, nay không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xét.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo.

Bị cáo Nguyễn Quang H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Dương Chính H có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ