- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giáp - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Viết G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2023/HS-ST Ngày 23-8-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Minh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Thanh Huệ và bà Hoàng Thị Tám.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thúy Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:
Lê Viết G, sinh năm: 1984, tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn 6, xã T, huyện Đắk S, tỉnh Đắk Nông; Chỗ ở hiện nay: Bon B, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 0/12; Con ông Lê Viết T (sinh năm 1962) và con bà: Phan Thị H (sinh năm 1964); Có vợ là H’N (sinh năm 1987) và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chăm được áp dụng: Bị bắt tạm giữ từ ngày 05/5/2023 đến ngày 10/5/2023 chuyển tạm giam; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông - Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm: 1988; Địa chỉ: Thôn 6, xã T, huyện Đắk S, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Hoàng Văn C, sinh năm: 1960; Địa chỉ: Thôn 6, xã T, huyện Đắk S, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Viết G là người nghiện ma tuý, nên vào sáng ngày 02/5/2023 Giáp đến khu vực cầu Đắk Nông thuộc thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông gặp người đàn ông tên K làm nghề xe ôm (không rõ nhân thân, lai lịch), mua ma tuý với số tiền 700.000 đồng, Giáp về nhà sử dụng ba lần. Đến khoảng 18 giờ 00 phút ngày 04/5/2023 Nguyễn Văn N đi bộ một mình đến quán cà phê, cắt tóc của em gái Giáp là Lê Thị Thu tại Thôn 6, xã T, huyện Đắk S, tỉnh Đắk Nông gặp Giáp đang ngồi uống bia tại quán cà phê, N nói Giáp bán 01 gói ma tuý với số tiền 200.000 đồng, Giáp lấy 01 gói giấy dạng báo bên trong chứa ma tuý loại heroin đưa cho N. N cất ma túy vào túi áo khoác bên phải đang mặc (áo khoác màu xanh rêu dài tay) Giáp nhận số tiền 200.000 đồng (mỗi tờ mệnh giá 100.000 đồng), cất vào túi quần sau. Giáp và Nam tiếp tục ngồi uống bia, lúc này Công an xã Trường Xuân đến thì Nguyễn Văn N đứng dậy, đi được 02 mét thì bị Công an xã Trường Xuân, huyện Đắk Song kiểm tra thu giữ trên người Nam 01 gói giấy báo bên trong có chứa ma túy vừa mua của Giáp; thu giữ của Lê Viết G 200.000 đồng là số tiền bán ma túy cho Nam.
Tại bản kết luận giám định số 156/KL-KTHS ngày 09/5/2023 của Phòng Kỹ Thuật Hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận chất rắn màu trắng đựng trong 01 gói giấy được niêm phong trong bì thư gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, có khối lượng mẫu là 0,0916 gam; Hoàn lại đối tượng giám định: Chất rắn màu trắng trong bì thư hoàn lại Cơ quan trưng cầu sau giám định có khối lượng mẫu là 0,0822 gam.
Cáo trạng số: 48/CT-VKS-ĐS ngày 28 tháng 7 năm 2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song đã truy tố bị cáo Lê Viết G về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song đã phân tích, đánh giá tính chất của vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Viết G về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Viết G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Viết G mức hình phạt từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 46; điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng thu giữ của Lê Viết G do bán trái phép chất ma túy mà có. Tịch thu tiêu hủy 0,0822 gam heroin hoàn lại sau giám định.
Tại phiên toà, bị cáo không bào chữa, không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng:
Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Song, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hai hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi khách quan và hậu quả do hành vi khách quan của bị cáo gây ra, bị cáo khai nhận như sau:
Tại phiên toà, bị cáo Lê Viết G đã khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông đã truy tố, lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ thu thập có lưu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà.
Hội đồng xét xử xét thấy: Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 04/5/2023, Lê Viết G thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn N với số tiền 200.000 đồng tại quán cà phê, cắt tóc của chị Lê Thị T thuộc Thôn 6, xã T, huyện Đắk S, tỉnh Đắk Nông thì bị lực lượng Công an xã Trường Xuân, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông bắt quả tang cùng vật chứng là 0,0916 gam heroin và số tiền 200.000 đồng.
Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở pháp lý để kết luận bị cáo Lê Viết G dã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2...”
Đánh giá tính chất vụ án:
Xét hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến nền trật tự trị an tại địa phương nơi bị cáo cư trú cũng như tình hình chung trong xã hội. Nhưng với ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã thực hiện hành vi mua bán trái phép 0,0916 gam heroin nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình.
Do đó, để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy cần có một mức án thật nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và hậu quả tội phạm để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt cho xã hội biết tôn trọng pháp luật.
Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân xấu, cụ thể:
Ngày 27/4/2006, bị Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm xử phạt 24 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản quy định tại khoản 1 Điều 135 Bộ luật hình sự năm 1999 (theo Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2006/HSST). Ngày 02/02/2008, chấp hành xong án phạt tù, về sinh sống tại Bon B, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Bị cáo đã được xóa án tích.
Ngày 08/7/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm xử phạt 01 năm 03tháng tùvề tội Trộm cắptài sảnquy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (theo Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2010/HS-ST). Ngày 12/5/2011, chấp hành xong án phạt tù, về sinh sống tại Bon B, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Bị cáo đã được xóa án tích.
Ngày 13/4/2012, bị Tòa án nhân dân thị xã Gia Nghĩa (nay là thành phố Gia Nghĩa), tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm xử phạt 04 năm tù về tội Cố ý gây thương tích quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 (theo Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2012/HS-ST). Ngày 19/10/2015, chấp hành xong án phạt tù, về sinh sống tại Bon B, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Bị cáo đã được xóa án tích.
Ngày 19/10/2018, bị Tòa án nhân dân thị xã Gia Nghĩa (nay là thành phố Gia Nghĩa), tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản và tội Trốn khỏi nơi giam giữ quy định tại khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 386 Bộ luật hình sự năm 2015 (theo Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2018/HS-ST). Ngày 03/02/2021 chấp hành xong án phạt tù, về sinh sống tại Bon B, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Bị cáo đã được xóa án tích.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, do đó cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Qua 04 lần thực hiện hành vi phạm tội và đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng bị cáo không lấy việc cải tạo để tu dưỡng và sửa chữa mình mà ngày 04/5/2023 bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội và có tác dụng răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án:
- Đối với người đàn ông tên Khanh làm nghề xe ôm (không rõ nhân thân, lai lịch) bán ma túy cho bị cáo Lê Viết G, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Song có văn bản đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa tiến hành xác minh nhưng chưa phát hiện được đối tượng nên tách ra để tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
- Đối với Nguyễn Văn N quá trình điều tra, xác minh, tra cứu trong hệ thống tàng thư lưu trữ, không có tiền án, tiền sự; Hành vi tàng trữ 0,0916 gam heroin với mục đích để sử dụng, không đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 31/5/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Song đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 5.000.000 đồng về hành vi sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 15/6/2023 Nguyễn Văn N đã nộp phạt.
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Viết G. Ngày 08/6/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Song đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng.
Vật chứng của vụ án:
- Đối với số tiền 200.000 đồng là tiền thu lợi bất chính do bán ma túy mà có, nên tịch thu sung ngân sách nhà nước;
- Đối với chất rắn màu trắng trong bì thư hoàn lại sau giám định có khối lượng mẫu là 0,0822 gam heroin, cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Viết G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Viết G 03 (ba) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 05/5/2023.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 46; điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng thu giữ của Lê Viết G do bán trái phép chất ma túy mà có. Tịch thu tiêu hủy 0,0822 gam heroin hoàn lại sau giám định.
(Tất cả vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/8/2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Song và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Song).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Vũ Văn Duy phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Văn Duy có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15(Mười lăm) ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - Phòng PV 27 CA tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk Song; - Công an huyện Đắk Song; - Chi cục THA DS huỵên Đắk Song; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HSVA, TANDH Đắk Song. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Đình Minh |