- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy đối với Họ và tên: Tạc Văn B, sinh năm 1979 tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Tên gọi khác…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tạc Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2023/HS-ST Ngày: 06 - 4 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Trương Khánh Thành
Bà: Nguyễn Thị Xuyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 4 năm 2023, tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã An Khánh, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2023/TLST-HS, ngày 14/3/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2023/QĐXXST-HS ngày 24/3/2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Tạc Văn B, sinh năm 1979 tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Xóm B, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Cao Lan; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 2/12; Con ông: Tạc Văn T, con bà: Nông Thị V; Có vợ: Trịnh Thị N và có hai con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2010; Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2022 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt tại phiên tòa).
- Người chứng kiến:
1
Bà Trần Thị N, sinh năm 1960.
Trú tại: Xóm B, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 00 phút ngày 15/12/2022, Tổ công tác Công an xã H, huyện Đ khi đến làm việc tại nhà Tạc Văn B phát hiện quả tang B đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình làm việc với Tổ công tác B đã tự giác lấy ra từ trong túi quần bên trái đang mặc 01 gói giấy màu trắng có chữ màu xanh, bên trong có chứa chất bột màu trắng (B khai nhận đó là ma túy loại Heroine của B được cho để sử dụng cho bản thân). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng gồm: 01 gói giấy màu trắng có chữ màu xanh, bên trong có chứa chất bột màu trắng (được niêm phong trong phong bì ký hiệu A) và chuyển toàn bộ hồ sơ, đối tượng cùng vật chứng đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.
Hồi 23 giờ 35 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ phối hợp với Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất bột màu trắng thu giữ của Tạc Văn B: Trong phong bì ký hiệu A có khối lượng 0,179 gam. Lấy toàn bộ số chất bột màu trắng trên niêm phong vào phong bì ký hiệu A1 gửi giám định. Vỏ giấy gói và vỏ phong bì A niêm phong vào phong bì ký hiệu A2.
Hồi 08 giờ 00 phút ngày 16/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, địa điểm, phương tiện đối với Tạc Văn B tại Xóm B, xã H, huyện Đ. Kết quả khám xét: Không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại Kết luận giám định số 38/KL-KTHS ngày 23/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 0,179 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Tạc Văn B khai nhận: Bản thân B là người nghiện ma túy. Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 15/12/2022 B đi nhờ xe của người đi đường vào khu vực xóm Khưu, xã Phục Linh, huyện Đ để chơi. Đến khoảng 08
2
giờ 30 phút cùng ngày, B đến xóm Khưu và đi bộ thì gặp một người đàn ông (B không biết tên tuổi, địa chỉ) trước đây có sử dụng ma túy cùng B. B hỏi người này còn ma túy Heroine không cho B một ít để sử dụng thì người đàn ông này cho B 01 gói chất Heroine, loại Heroine được gói bằng giấy màu trắng có chữ màu xanh. Sau đó, B cất gói ma túy vào túi quần bên trái đang mặc và đi nhờ xe của người đi đường về nhà. Khi B về đến nhà thì gặp tổ công tác Công an xã H mời B lên Công an xã làm việc để xác định tình trạng nghiện ma túy. B đã khai nhận đang tàng trữ Heroine và tự giác giao nộp gói Heroine nêu trên, Tổ công tác tiến hành thu giữ vật chứng, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với B như nêu trên.
Vật chứng của vụ án gồm: 02 bì niêm phong ký hiệu A1, A2 hiện được bảo quản tại kho vật chứng của chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ chờ xử lý.
Tại phiên tòa bị cáo Tạc Văn B khai nhận rõ hành vi phạm tội như đã khai tại Cơ quan điều tra và bản cáo trạng nêu trên.
Bản cáo trạng số 32/CT-VKSĐT, ngày 13/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Tạc Văn B về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, trong phần tranh luận vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ đã trình bày lời luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Tạc Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Tạc Văn B từ 18 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; về xử lý vật chứng cần tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Trong phần tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là không oan, đúng người, đúng tội. Lời nói sau cùng bị cáo không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
3
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ; Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ; Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bị cáo thừa nhận do nghiện ma tuý nên đã tàng trữ ma tuý trong người để sử dụng cho bản thân không bán lại cho ai, không nhằm mục đích gì khác. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong, cân xác định khối lượng ma túy, kết luận giám định, phù hợp với lời khai người tham gia tố tụng khác cũng như các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 15/12/2022, tại nhà ở của Tạc Văn B thuộc Xóm B, xã H, huyện Đ, B đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,179 gam chất ma túy, loại Heroine mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác Công an xã H, huyện Đ phát hiện lập biên bản quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c) Heroine....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
4
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thực sự thành khẩn khai báo. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Vì vậy, căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như tính chất, mức độ của tội phạm, Hội đồng xét xử thấy cần có một mức án tương xứng với tội trạng mà bị cáo gây ra và cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội đồng thời răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và xác minh lời khai của bị cáo tại phiên tòa, xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xử lý vật chứng như sau:
Đối với vật chứng là số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu được niêm phong trong các phong bì ký hiệu A1, A2, xét thấy đây là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận.
Về tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Căn cứ vào Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử ra Quyết định tạm giam bị cáo Tạc Văn B
5
với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Về nguồn gốc số ma túy Heroine: B khai xin của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực xóm Khưu, xã Phục Linh, huyện Đ. Do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không có cơ sở để điều tra, xử lý đối với người đàn ông này.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự. Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tạc Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt chính: Xử phạt Tạc Văn B 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/12/2022.
3. Về tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Quyết định tạm giam bị cáo Tạc Văn B với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
4. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1, còn nguyên tình trạng niêm phong, trên mép dán niêm phong có họ tên, chữ ký của người niêm phong và đóng 02 dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2, còn nguyên tình trạng niêm phong, trên mép dán niêm phong có họ tên, chữ ký của thành phần tham gia và đóng 03 dấu tròn đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/3/2023 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ).
6
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Tạc Văn B phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo (Tạc Văn B), báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND huyện Đ; - Cơ quan điều tra CA huyện Đ; - CQTHAHS Công an huyện Đ; - Nhà tạm giữ Công an huyện Đ; - Chi cục T.H.A DS huyện Đ; - Bị cáo; Người có QLNVLQ; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Lưu: HS, VP, T.H.A HS./. 7 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Giang |