vanban.org

Bản án 43/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 27/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Hữu L phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Phạm Hữu L 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện BT, tỉnh V nhận được quyết định thi hành án.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Hữu L - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Hữu L phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH TÂN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2023/HS-ST
Ngày: 27 - 7 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Ngọc Đức

Ông Nguyễn Ngọc Tòng

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Điền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Phú - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Phạm Hữu L, sinh ngày 20/11/1985, tại huyện BT, tỉnh V; Nơi cư trú: Tổ 04, ấp Thành T, xã Thành L, huyện BT, tỉnh V; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn K (chết) và bà Nguyễn Thị H; có vợ Lê Thị Ngọc N và có 01 con, sinh năm 2019; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 lần (ngày 23/5/2022 bị Công an xã Thành T, huyện BT, tỉnh V ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc trái phép” với số tiền 2.000.000 đồng); Nhân thân: Ngày 10/5/2018 bị Công an huyện BT, tỉnh V ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc trái phép” với số tiền 1.500.000 đồng. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Ông Trần Văn M, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Ấp Thành S, xã Thành T, huyện BT, tỉnh V. (vắng mặt)

2. Ông Huỳnh Ngọc H, sinh năm 1969. Nơi cư trú: Ấp Thành S, xã Thành T, huyện BT, tỉnh V. (vắng mặt)

3. Anh Nguyễn Thành T, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Tổ 01, ấp Thành S, xã Thành T, huyện BT, tỉnh V. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ ngày 05/4/2023, Phạm Hữu L cùng với Trần Văn M, Huỳnh Ngọc H và Nguyễn Thành T đi đến bãi đất trống gần quán nước của anh Nguyễn Tấn L (tên thường gọi là Năm Đ) ở tổ 01, ấp Thành S, xã Thành T, huyện BT, tỉnh V để uống nước. Tại đây, L cùng M, H và T rủ nhau chơi đánh bài tiến lên được thua bằng tiền thì tất cả đồng ý.

Cách thức chơi đánh bài và tính thắng thua như sau: Sử dụng bộ bài tây 52 lá, gồm có 04 tụ, mỗi tụ được chia 13 lá bài, ai đánh hết 13 lá bài trước thì ăn nhất, rồi lần lượt tới nhì, thua ba và cuối cùng là thua chót. Khi đánh hết ván bài thì tính tiền ăn thua rồi tiếp tục chia bài đánh ván tiếp theo.

Sòng bài chơi đến khoảng 14 giờ 20 phút cùng ngày (05/4/2023), thì bị lực lượng Công an huyện BT, tỉnh V kết hợp với Công an xã Thành T, huyện BT đến bắt quả tang. Tang vật thu giữ tại chiếu bạc gồm có số tiền 180.000 đồng, 02 bộ bài tây 52 lá và nhiều vật chứng có liên quan khác.

Qua làm việc xác định: Tổng số tiền tham gia đánh bạc của các đối tượng là 670.000 đồng (gồm 180.000 đồng thu tại chiếu bạc, 180.000 đồng thu của M, 160.000 đồng thu của H, 150.000 đồng thu của T đều cất giấu trong người dùng để đánh bạc).

Qua điều tra Phạm Hữu L, Trần Văn M, Huỳnh Ngọc H và Nguyễn Thành T đã khai báo rõ ràng, thừa nhận toàn bộ hành vi đánh bài ăn thua bằng tiền như trên.

Phạm Hữu L có tiền sự về hành vi “Đánh bạc trái phép” đã bị Công an xã Thành T, huyện BT, tỉnh V ra quyết định xứ phạt vi phạm hành chính với số tiền là 2.000.000 đồng vào ngày 23/5/2022. Đến ngày 05/4/2023, L tiếp tục đánh bài ăn thua bằng tiền thì thời hiệu tiền sự chưa hết nên hành vi của L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an BT, tỉnh V đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Phạm Hữu L và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra cho đến nay.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã chứng minh, giải quyết được như sau:

Đối với Trần Văn M, Huỳnh Ngọc H và Nguyễn Thành T có hành vi đánh bài được thua bằng tiền, nhưng số tiền ăn thua ít, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Vào ngày 13/4/2023 Công an huyện BT, tỉnh V đã ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc trái phép" mỗi người với số tiền là 1.500.000 đồng và tịch thu số tiền tham gia đánh bạc của M là 180.000 đồng, của H là 160.000 đồng và của T là 150.000 đồng xong.

Đối với 02 bộ bài tây 52 lá Công an huyện BT, tỉnh V đã tịch thu tiêu hủy, còn số tiền thu tại chiếu bạc là 180.000 đồng đã tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước theo thủ tục hành chính xong.

Đối với số tiền 1.260.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng thu của Trần Văn M; 350.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng (đã bị bể màn hình) thu của Nguyễn Thành T không dùng để đánh bạc. Công an huyện BT, tỉnh V đã trả lại cho M và T xong.

Đối với số tiền 4.800.000 đồng thu của L, không dùng để đánh bạc cần trả lại cho L.

Tại cáo trạng số: 36/CT-VKSBT ngày 06/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện BT, tỉnh V đã truy tố bị cáo Phạm Hữu L về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, sau khi phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả, nhân thân của bị cáo, năng lực trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Viện kiểm sát nhân dân huyện BT, tỉnh V vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Hữu L về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Phạm Hữu L phạm tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt chính:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 36; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Hữu L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Phạt bị cáo Phạm Hữu L từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Phạm Hữu L (do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định).

Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc Công an huyện BT trả lại cho Trần Văn M số tiền 1.260.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Oppo; trả cho Nguyễn Thành T số tiền 350.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone.

Đối với số tiền 4.800.000 đồng thu của bị cáo L, bị cáo không dùng để đánh bạc đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo Phạm Hữu L, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phạm Hữu L nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Phạm Hữu L khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện BT, tỉnh V đã truy tố, bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện BT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện BT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Trong vụ án, những người làm chứng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, những người làm chứng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Xét thấy, việc vắng mặt nnững người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).

Xét lời khai nhận của bị cáo Phạm Hữu L tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản xảy ra sự việc, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa. Có đủ căn cứ xác định: Bị cáo Phạm Hữu L có 01 tiền sự về hành vi “Đánh bạc trái phép” bị Công an xã Thành T, huyện BT, tỉnh V ra quyết định xử phạt hành chính với số tiền là 2.000.000 đồng vào ngày 23/5/2022. Đến ngày 05/4/2023, bị cáo L tiếp tục đánh bài được thua bằng tiền cùng với Trần Văn M, Huỳnh Ngọc H và Nguyễn Thành T tại bãi đất trống gần quán nước của anh Nguyễn Tấn L thuộc tổ 01, ấp Thành S, xã Thành T, huyện BT, tỉnh V thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Số tiền tham gia đánh bạc là 670.000 đồng (gồm 180.000 đồng thu tại chiếu bạc, 180.000 đồng thu của M, 160.000 đồng thu của H, 150.000 đồng thu của T, đều cất giấu trong người dùng để đánh bạc).

Như vậy, hành vi của bị cáo Phạm Hữu L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân BT, tỉnh V truy tố bị cáo Phạm Hữu L với tội danh cùng điều luật nêu trên là có căn cứ, hoàn toàn đúng người, đúng tội.

. Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội: Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo Phạm Hữu L là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, trật tự xã hội là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ và trừng trị nghiêm khắc. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và việc đánh bạc bị nhà nước nghiêm cấm, là một tệ nạn xã hội thường dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng, phát sinh nhiều tội phạm khác nhau, nhà nước bằng các quy phạm pháp luật với các chế tài hình sự rất nghiêm khắc để giáo dục, trừng trị những người tham gia vào tệ nạn xã hội này, thế nhưng vì muốn có tiền để tiêu xài, không phải lao động vất vả nên bị cáo vẫn bất chấp phạm tội thể hiện tính xem thường pháp luật. Hành vi của bị cáo còn tìm ẩn nguy cơ làm khánh kiệt tài sản của chính gia đình bị cáo và của nhiều người khác khi tham gia đánh bạc, đồng thời gây ảnh hưởng đến nếp sống văn minh và gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Chính vì vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung, ngăn chặn tệ nạn cờ bạc trong xã hội, giữ gìn trật tự công cộng, bảo vệ tính mạng, sức khỏe và tài sản của công dân.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, mức độ sát phạt và số tiền ăn thua từ việc đánh bạc không lớn; bị cáo có mẹ ruột là bà Nguyễn Thị H được Văn phòng Trung ương Đảng tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp văn phòng cấp ủy và được hưởng chế độ trợ cấp một lần đối với đối tượng trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ và bà ngoại là Lê Thị H là mẹ Việt Nam anh hùng (có 03 con hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ Quốc). Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó, khi quyết định hình phạt cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt tương ứng cho bị cáo.

Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, đã nhận thức được hành vi vi phạm nên áp dụng Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử lý bị cáo là phù hợp, không cần cách ly khỏi xã hội vẫn đảm bảo việc răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo.

Xét bị cáo Phạm Hữu L không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với số tiền 1.260.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng thu của Trần Văn M; số tiền 350.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng (đã bị bể màn hình) thu của Nguyễn Thành T không dùng để đánh bạc. Công an huyện BT, tỉnh V đã trả lại cho M và T xong nên Hội đồng xét xử chấp nhận và không đặt ra xem xét, giải quyết.

Đối với số tiền 4.800.000 đồng thu của bị cáo L, bị cáo không dùng số tiền này để đánh bạc cần trả lại cho bị cáo L, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ và đúng theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Phạm Hữu L nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Hữu L phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 36; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Phạm Hữu L 01 (một) năm cải tạo không giam giữ.

Thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện BT, tỉnh V nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Phạm Hữu L cho Ủy ban nhân dân xã Thành L, huyện BT, tỉnh V để giám sát, giáo dục. Gia đình của bị cáo Phạm Hữu L có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Thành L, huyện BT, tỉnh V trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Phạt bị cáo Phạm Hữu L số tiền 15.000.000 đồng.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Phạm Hữu L.

2. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Trả lại cho bị cáo Phạm Hữu L số tiền 4.800.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0001750 ngày 08/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện BT, tỉnh V, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phạm Hữu L nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ