vanban.org

Bản án 43/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai Tuyên án 30/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,06 gam Heroine và 01 mảnh nilon màu xanh, 01 bì niêm phong ban đầu gửi giám định tất cả được đựng trong 01 bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Tại mép dán của bì niêm phong mới này có chữ ký ghi rõ họ tên của các bên tham gia; 01 dấu điểm chỉ có… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý A L phạm tội - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật hình sự tuyên bố; Điều 38 Bộ luật hình sự tuyên bố
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÁT XÁT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 43/2023/HS-ST
Ngày 30 - 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT - TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Đỗ Minh Thanh

- Bà Tưởng Thị Tuyết

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nông Văn Nghiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 38/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Lý A L (tên gọi khác: Không), sinh ngày 27 tháng 6 năm 1982, tại huyện B, tỉnh Lào Cai. Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Con ông: Lý A C (tên gọi khác Lý A C) - đã chết; Con bà Giàng Thị M (tên gọi khác Giàng Thị M), sinh năm: 1953, hiện cư trú tại thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai; Bị cáo có vợ là Vừ Thị X (tên gọi khác Vừ Thị X), sinh năm 1982 hiện cư trú tại thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2008.

Tiền án: Bị cáo có 01 tiền án. Bản án số 40/2017/HS-ST ngày 12/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai xử phạt Lý A L 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 08/7/2022, tính đến thời điểm phạm tội lần này bị cáo chưa được xóa án tích.

Nhân thân: Bị cáo là đối tượng thường xuyên sử dụng chất ma túy.

`

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 02/7/2023, tạm giam ngày 05/7/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Hương Thủy - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai. Có mặt.

- Người chứng kiến: Anh Lý A D

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 01/7/2023, Lý A L đang ở khu vực chợ M, xã M, huyện B, tỉnh Lào Cai thì nảy sinh ý định mua ma túy về để sử dụng, L đi đến đầu cầu D thuộc thôn M, xã M, huyện B, tỉnh Lào Cai thì gặp một người đàn ông dân tộc mông, khoảng 50 tuổi và mua của người này 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu xanh bên trong là chất bột khô, màu nâu, vón cục với giá 40.000 đồng. Sau khi mua được gói ma tuý L cất giấu gói ma túy vào trong túi quần phía trước, bên trái rồi đi về nhà. Đến 20 giờ 20 phút cùng ngày Lý A L đi đến khu vực thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai thì bị tổ công tác công an xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai kiểm tra. Lý A L tự giác lấy từ bên trong túi quần phía trước, bên trái của L ra 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa chất bột khô màu nâu, vón cục và khai nhận là ma túy Heroine L mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng gồm 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa chất bột khô màu nâu, vón cục.

Tại bản kết luận giám định số 249/KL-GĐMT ngày 04/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 0,10 gam chất bột khô, màu nâu, vón cục gửi giám định là loại chất ma túy Heroine (Hêrôin).

Tại bản cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 11/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Lý A L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lý A L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Trong đó:

Về hình phạt chính: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Lý A L từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,06 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định, 01 mảnh nilon màu xanh cùng bì niêm phong ban đầu gửi giám định đã được tái niêm phong theo quy định.

Về án phí: Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, đề nghị Hội đồng xét xử miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Lý A L trình bày luận cứ bào chữa, phân tích nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử Quyết định hình phạt ở mức thấp nhất của khung hình phạt là 01 năm tù; Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, gia đình thuộc hộ nghèo đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về vật chứng của vụ án: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật; Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo đã có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp, đúng với quy định của pháp luật.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lý A L khai nhận bản thân là người nghiện chất ma túy nên ngày 01/7/2023 bị cáo đã mua ma túy của một người đàn ông không quen biết người dân tộc mông, khoảng 50 tuổi ở khu vực đầu cầu D thuộc thôn M, xã M, huyện B, tỉnh Lào Cai với mục đích sử dụng cho bản thân, sau khi mua được ma túy bị cáo cất giấu vào túi quần phía trước, bên trái rồi đi về nhà, trên đường về thì bị phát hiện bắt quả tang. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã có trong hồ sơ. Như vậy có đủ cơ sở để khẳng định bản cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 11/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Lý A L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và hiểu biết pháp luật. Bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy nên bị cáo hiểu rất rõ Nhà nước ta nghiêm cấm mọi hành vi “Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy”. Mọi hành vi, vi phạm đều phải được xử lý thật nghiêm minh trước pháp luật. Hiểu rất rõ điều đó song do không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân nên bị cáo đã nghiện chất ma túy, để có ma túy sử dụng cho bản thân bị cáo đã tàng trữ 0,10 gam Heroine. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, gây ảnh hưởng xấu trong dư luận quần chúng nhân dân. Vì vậy đối với bị cáo cũng cần phải có một mức án nghiêm khắc để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

. Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu thường xuyên sử dụng chất ma túy và có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án, ngày 12/7/2017 bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai xử phạt 06 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 08/7/2022 bị cáo chấp hành xong án phạt tù. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 70 của Bộ luật hình sự thì bị cáo chưa được xóa án tích, vì vậy lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi bị bắt và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên cũng cần áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về các vấn đề liên quan trong vụ án:

Liên quan trong vụ án này còn có người đàn ông người dân tộc mông, khoảng 50 tuổi, theo bị cáo khai là người đã bán ma túy cho bị cáo ở khu vực đầu cầu D thuộc thôn M, xã M, huyện B, tỉnh Lào Cai. Quá trình điều tra, do không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể của người này, nên cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đề cập xử lý.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện chất ma túy, không có việc làm ổn định, gia đình thuộc hộ nghèo do đó không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 0,10 gam Heroine đã trích mẫu 0,04 gam Heroine để giám định không hoàn lại, còn lại 0,06 gam Heroine cùng 01 mảnh nilon màu xanh và bì niêm phong ban đầu gửi giám định được tái niêm phong hoàn lại cơ quan trưng cầu, xét thấy chất ma túy là vật cấm lưu hành nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 mảnh nilon màu xanh và bì thư niêm phong ban đầu gửi giám định không có giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí: Bị cáo có đơn xin miễn nộp tiền án phí, căn cứ Giấy chứng nhận hộ nghèo số 02/GCN-HN.HCN ngày 06/01/2023 do UBND xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai xác nhận hộ gia đình Vừ Thị X (chồng Lý A L) là hộ nghèo, vì vậy căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội miễn tiền án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

. Về đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo:

Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên về điều luật áp dụng đối với bị cáo là đúng, mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và việc tranh tụng tại phiên tòa để quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo về mức hình phạt đối với bị cáo chưa đánh giá đúng tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo do đó không được chấp nhận. Đối với đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và đề nghị miễn tiền án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo, xét thấy là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

Tại phiên tòa bị cáo không đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Lý A L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lý A L 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/7/2023.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,06 gam Heroine và 01 mảnh nilon màu xanh, 01 bì niêm phong ban đầu gửi giám định tất cả được đựng trong 01 bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Tại mép dán của bì niêm phong mới này có chữ ký ghi rõ họ tên của các bên tham gia; 01 dấu điểm chỉ có ghi “Điểm chỉ ngón trỏ phải của Lý A L” hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai và được dán phủ bằng lớp băng dính trong suốt. Mặt còn lại của bì niêm phong có ghi dòng chữ “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Lý A L tại thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai ngày 01/7/2023”.

Toàn bộ vật chứng trên đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/8/2023.

Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu phí, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lý A L được miễn nộp 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Cỡ chữ