vanban.org

Bản án 43/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 21/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ma Cao Th phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Ma Cao Th 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án, được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/6/2023 đến ngày 18/6/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ma Cao Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ma Cao Th phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2023/HS-ST
Ngày: 21/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Anh Tiệp

Ông Lăng Văn Thủy

Thư ký phiên toà: Bà Đàm Thị Bưởi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Bàn Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐXXST-HS ngày 08/9/2023 đối với bị cáo:

Ma Cao Th (tên gọi khác: Không), sinh ngày 19 tháng 6 năm 1986 tại Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tiểu khu c, thị trấn N, huyện Ng, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ma Đức L và bà Ma Thị É; có vợ là Hoàng Thùy Nh, có 03 con; Tiền án: 01 (Bản án số 28/2012/HSST ngày 27/11/2012 Tòa án nhân dân huyện Ng, tỉnh Bắc Kạn xử phạt Ma Cao Th 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội trộm cắp tài sản – Đến nay bị cáo chưa chấp hành xong phần trách nhiệm dân sự); Tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 38/2014/HSST ngày 15/12/2014 Tòa án nhân dân huyện Ng xử phạt Ma Cao Th 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (ngày 23/02/2016 Ma Cao Th chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án); bị tạm giữ từ ngày 09/6/2023 đến ngày 18/6/2023; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 30 phút ngày 09/6/2023, tại khu vực bên trái đường liên thôn hướng Q - L thuộc thôn Khuổi Th, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Công an huyện B phát hiện Ma Cao Th (sinh năm 1986, trú tại Tiểu khu c, thị trấn N, huyện Ng, tỉnh Bắc Kạn) đang đứng ở ven đường có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã yêu cầu kiểm tra hành chính, khi thấy tổ công tác Ma Cao Th đã ném 01 vỏ bao thuốc lá bên trong có chứa 01 gói nhỏ từ tay trái xuống ven đường cách chỗ Th đứng khoảng 02 mét, tổ công tác đã mời người chứng kiến đến để kiểm tra; qua kiểm tra phát hiện tại vị trí vỏ bao thuốc lá mà Ma Cao Th ném ra có 01 gói nhỏ được gói bằng giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, bên trong có chứa chất màu nâu hồng nghi vấn là ma túy. Tiến hành thử phản ứng phát hiện nhanh chất ma túy, kết quả số chất có trong gói nhỏ trên trùng với đặc trưng của chất ma túy, loại Heroine. Ma Cao Th khai nhận gói nhỏ mà tổ công tác kiểm tra phát hiện nêu trên là gói ma túy của Th, do lo sợ tổ công tác phát hiện nên Th đã ném xuống ven đường. Cùng ngày 09/6/2023, Công an huyện B đã chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện B để giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 10/6/2023, Cơ quan điều tra phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường. Ngày 12/6/2023, tiến hành thực nghiệm điều tra, cho Ma Cao Th diễn lại hành vi dùng tay trái ném 01 vỏ bao thuốc lá bên trong có chứa 01 gói nhỏ xuống nền đất. Kết quả, Ma Cao Th thực hiện được hành vi nêu trên, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và lời khai của Ma Cao Th. Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Ma Cao Th, kết quả khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Kết luận giám định số 197/KL-KTHS ngày 16/6/2023, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn, kết luận: Mẫu chất bột màu nâu hồng trong phong bì ký hiệu GĐ gửi giám định là ma túy; loại Heroine và loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,218g (Không phẩy hai một tám gam).

Quá trình điều tra, truy tố, Ma Cao Th khai nhận: Do bản thân là người sử dụng ma túy từ năm 2012, nên khoảng 18 giờ ngày 09/6/2023, khi đang đi bộ tại khu vực ngã ba Đon Tuấn thuộc phường Huyền Tụng, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, Th gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi, không biết tên, địa chỉ có biểu hiện giống người sử dụng ma túy nên đã nhờ người đàn ông này đi mua hộ ma túy về sử dụng, Th đưa cho người đàn ông này số tiền 189.000đ (Một trăm tám mươi chín nghìn đồng), người đàn ông này cầm tiền rồi điều khiển xe mô tô chở Th đi đến khu vực ngã ba Hà Vị thuộc thôn Kh, xã Q, huyện B thì bảo Th xuống xe đợi, rồi người đàn ông này điều khiển xe đi đâu đó khoảng 03 đến 05 phút thì quay lại đưa cho Th 01 vỏ bao thuốc lá bên trong có chứa 01 gói nhỏ ma túy và bảo Th đứng đợi để đi mua xi lanh và nước cất về cùng nhau sử dụng ma túy. Khi đang đứng đợi người đàn ông đó quay lại thì Th thấy tổ công tác Công an huyện B, do lo sợ nên Th đã ném vỏ bao thuốc lá bên trong có chứa 01 gói nhỏ ma túy vừa mua được xuống ven đường.

Vật chứng của vụ án gồm:

- 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu T105 bên trong có 0,152g (Không phẩy một năm hai gam) mẫu chất gửi giám định cùng bao gói cũ, phong bì ban đầu ký hiệu “GĐ” cơ quan giám định hoàn trả lại.

- 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu “VC” bên trong có 01 (Một) mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 01 (Một) phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “T1”.

Cáo trạng số: 39/CT-VKS-BT ngày 28/8/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn truy tố Ma Cao Th về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Ma Cao Th đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu. Bị cáo xin Hội đồng xét xử (HĐXX) cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn đề nghị HĐXX tuyên bố: Ma Cao Th phạm tội "tàng trữ trái phép chất ma túy''. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Ma Cao Th từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án, được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/6/2023 đến ngày 18/6/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu T105 bên trong có 0,152g (Không phẩy một năm hai gam) mẫu chất gửi giám định cùng bao gói cũ, phong bì ban đầu ký hiệu “GĐ”; 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu “VC” bên trong có 01 (Một) mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng và 01 (Một) phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “T1”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ý kiến, khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Th đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện B và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ các chứng cứ trên, có cơ sở kết luận: Hồi 18 giờ 30 phút ngày 09/6/2023, tại khu vực thôn Khuổi Thiêu, xã Quân Hà, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Ma Cao Th đã có hành vi tàng trữ 01 gói nhỏ ma túy, loại Heroine và Methamphetamine, có khối lượng 0,218g (Không phẩy hai một tám gam), mục đích để sử dụng cho bản thân.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Nội dung Điều 249 Bộ luật Hình sự (BLHS) quy định như sau:

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)…

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".

. Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa:

Tại phần luận tội đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX xác định bị cáo có 01 tiền án và áp dụng 01 tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. HĐXX xét thấy, việc đại diện Viện kiểm sát đề nghị xác định bị cáo có 01 tiền án và áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS là có căn cứ chấp nhận, không cần thiết phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung; vì các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập đầy đủ trong hồ sơ vụ án, cũng như việc xét hỏi, kết quả tranh tụng công khai tại phiên toà đều thể hiện bị cáo chưa chấp hành xong phần trách nhiệm dân sự đối với bản án số 28/2012/HSST ngày 27/11/2012 của Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn; do đó, bị cáo chưa được xóa án tích đối với bản án này. Mặt khác, tại phiên tòa bị cáo Th cũng đồng ý với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát là xác định bị cáo có 01 tiền án và áp dụng thêm 01 tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Vì vậy, việc Viện kiểm sát nhân dân huyện B đề nghị xác định bị cáo có 01 tiền án và áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là có căn cứ; việc trả hồ sơ điều tra bổ sung chỉ làm kéo dài thời hạn giải quyết vụ án, nên HĐXX thấy không cần thiết phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về mức hình phạt, về xử lý vật chứng, về miễn hình phạt bổ sung và án phí là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận.

. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu (ngày 15/12/2014 Ma Cao Th bị Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn xử phạt 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản).

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS là: Bị cáo có mẹ đẻ được Chủ tịch nước tặng huy chương vì an ninh tổ quốc và tặng huy chương chiến sĩ vẻ vang, bố đẻ được Chủ tịch nước tặng huy chương chiến sĩ vẻ vang.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma tuý, không có tài sản, không có nghề nghiệp ổn định, gia đình thuộc hộ nghèo; do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu T105 bên trong có 0,152g (Không phẩy một năm hai gam) mẫu chất gửi giám định cùng bao gói cũ, phong bì ban đầu ký hiệu “GĐ” là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu “VC” bên trong có 01 (Một) mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng và 01 (Một) phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “T1” là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

. Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông bị cáo nhờ đi mua hộ ma túy và điều khiển xe mô tô chở bị cáo đến khu vực ngã ba Hà Vị thuộc thôn Khuổi Thiêu, xã Quân Hà, huyện B; do bị cáo không biết họ tên, địa chỉ người này và cũng không quen biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xác minh làm rõ được, nên HĐXX không đặt vấn đề xem xét.

. Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo, có đơn xin miễn án phí nên thuộc trường hợp miễn án phí theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.

1. Tuyên bố bị cáo Ma Cao Th phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Xử phạt bị cáo Ma Cao Th 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án, được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/6/2023 đến ngày 18/6/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu T105 bên trong có 0,152g (Không phẩy một năm hai gam) mẫu chất gửi giám định cùng bao gói cũ, phong bì ban đầu ký hiệu “GĐ”; 01 (Một) phong bì niêm phong ký hiệu “VC” bên trong có 01 (Một) mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng và 01 (Một) phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “T1”.

(Số lượng, hiện trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/8/2023 giữa Công an huyện B với Chi cục thi hành án dân sự huyện B).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Ma Cao Th.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ