- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ái N.
- Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 43/2023/HS-PT Ngày: 02/08/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mến Các Thẩm phán: Ông Trịnh Minh Tự Ông Nguyễn Văn Thành - Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Ngà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh. - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh - Kiểm sát viên. Ngày 02 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 57/2023/TLPT - HS, ngày 11/7/2023, đối với bị cáo Nguyễn Ái N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 28/2023/HS – ST ngày 23 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh. - Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Ái N, sinh ngày 11/10/1997; Nơi cư trú: ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1976 và bà Phan Thị L, sinh năm: 1979, có vợ chưa có con; tiền án: có 01 tiền án ngày 03/5/2017 bị Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xử phạt 07 năm tù về tội “giết người”; tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/6/2022 cho đến nay. Bị cáo có mặt. - Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo do không có kháng cáo, không có kháng nghị và không liên quan đến kháng cáo nên không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 26/01/2022, Công an huyện C phối hợp với Công an xã P kiểm tra phát hiện các bị cáo: Cao Văn V, Trần Hiệp P có hành vi tổ chức đánh bạc với hình thức đá gà ăn thua bằng tiền cho các bị cáo Cao Văn T, Nguyễn Văn T1,
Nguyễn Khắc T2, Nguyễn Văn C, Cao Thái N1, Nguyễn Hoàng L1, Nguyễn Thanh B1, Nguyễn Phú V1, Lê Thành P1, Lê Văn V2, Lê Minh H, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Ái N, Lê Văn T4, Nguyễn Văn Đ, Triệu Hoàng P2 và Nguyễn Tấn Đ1, địa điểm là tại khu vực đất trống cặp bờ kênh thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị V3 (thường gọi Ba T5) ngụ tại ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh nên vào sáng ngày 26/01/2022, bị cáo Cao Văn V lần lượt nhận được điện thoại từ các bị cáo Lê Thành P1, bị cáo Lê Văn T4, bị cáo Nguyễn Văn T1 với nội dung yêu cầu bị cáo Cao Văn V tìm đối tác có gà trống cùng trọng lượng để chơi đá gà với mục đích thắng, thua bằng tiền thì bị cáo Cao Văn V đồng ý. Sau đó, bị cáo Cao Văn V điện thoại cho bị cáo Nguyễn Văn Đ để yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn Đ mang gà đến điểm đá gà mà bị cáo V đã chọn sẵn. Để tổ chức đánh bạc bị cáo Cao Văn V chuẩn bị cân đồng hồ loại 05 kilôgam, cung cấp băng keo, cựa sắt và chọn khu vực đất trống cặp bờ kênh thuộc sở hữu của mẹ vợ là bà Nguyễn Thị V3 tại ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh vắng người qua lại để tổ chức đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi đá gà, nhằm mục đích thu lợi bất chính, sau mỗi trận đá gà bị cáo Cao Văn V nhận tiền của bên thua chung lại cho bên thắng và tự trích lại tiền xâu (tiền công) là 05% trong tổng số tiền bị cáo kết xổ của trận gà. Ngoài ra, bị cáo Cao Văn V kiểm tra trọng lượng gà, làm biện gà (trọng tài) phân định thắng thua. Để điểm đánh bạc không bị phát hiện, bị cáo Cao Văn V trực tiếp thuê và phân công bị cáo Trần Hiệp P canh gác tại phía ngoài con đường chính dẫn vào nơi diễn ra đánh bạc (tại quán nước ông Hai Q thuộc địa phận xã L, huyện T giáp ranh với ấp A, xã P, huyện C) để canh gác đảm bảo cho bị cáo Cao Văn V tổ chức đánh bạc tại ấp A, xã P, huyện C. Khi phát hiện có người lạ nghi vấn đến điểm đánh bạc hoặc lực lượng Công an kiểm tra thì bị cáo Trần Hiệp P sử dụng điện thoại di động gọi thông báo cho bị cáo Cao Văn V để giải tán điểm đánh bạc nhằm không bị phát hiện, xử lý. Bị cáo Cao Văn V trả tiền công canh gác cho bị cáo Trần Hiệp P số tiền 200.000 đồng/ngày. Bị cáo Cao Văn V trực tiếp làm biện gà tổ chức cho gà bên nhóm bị cáo Lê Thành P1 (chủ gà là bị cáo Nguyễn Khắc T2) đá với gà bên bị cáo Lê Văn T4 (chủ gà là bị cáo Nguyễn Ái N), gà bên bị cáo Nguyễn Văn T1 (chủ gà là bị cáo Cao Văn T) đá với gà bên bị cáo Nguyễn Văn Đ, cụ thể như sau: - Trận thứ nhất: Bị cáo Cao Văn V tổ chức cho gà điều vàng, trọng lượng 2,9 kilôgam của bị cáo Nguyễn Khắc T2 đá với gà điều xanh, trọng lượng 2,9 kilôgam của bị cáo Nguyễn Ái N (gà của bị cáo T2 nặng hơn gà của bị cáo N). Bị cáo Cao Văn V trực tiếp cân gà xác định trọng lượng, cung cấp băng keo và cựa sắt cho hai bên chủ gà. Gà điều vàng của bị cáo Nguyễn Khắc T2 do bị cáo Nguyễn Hoàng L1 ôm gà cho bị cáo Nguyễn Văn C trồng cựa và thả gà; gà điều xanh của bị cáo Nguyễn Ái N được bị cáo Lê Văn T4 nhờ một cháu trai khoảng 14 tuổi (không xác định được họ tên, địa chỉ) ôm gà cho bị cáo Lê Văn T4 trồng cựa và thả gà. Số tiền dùng vào đánh bạc của mỗi bên là 18.300.000đ (mười tám triệu ba trăm nghìn đồng), trong đó đá giao hữu (đá đồng) số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng) và gà của bị cáo T2 chấp gà của bị cáo N đá 10 ăn 8 số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng). Ngoài ra, xác con gà trị giá là 300.000đ (ba
trăm nghìn đồng), bên thua mua lấy lại xác gà thì phải chung tiền cho bên thắng số tiền trên. Như vậy, tổng số tiền mà hai bên đánh bạc là 36.600.000đ (ba mươi sáu triệu sáu trăm nghìn đồng). Khoảng 09 giờ cùng ngày, bị cáo Cao Văn T mang theo con gà bướm trắng sang nhà bị cáo Nguyễn Văn T1, rồi cả hai cùng đi đến điểm đánh bạc do bị cáo V tổ chức. Khi đến nơi, bị cáo Nguyễn Văn T1 thấy bị cáo V đang tổ chức cho gà điều vàng của bị cáo Nguyễn Khắc T2, đá với con gà điều xanh của bị cáo Nguyễn Ái N. Trong lúc bị cáo Nguyễn Văn T1 đứng gần bị cáo Nguyễn Văn T3 biết được bị cáo T3 có dùng tiền tham gia đánh bạc nên bị cáo Nguyễn Văn T1 nhờ bị cáo T3 tham gia đánh bạc giúp bị cáo Nguyễn Văn T1 số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) theo con gà điều vàng của bị cáo Nguyễn Khắc T2 thì được bị cáo T3 đồng ý. Bên phía gà điều vàng của bị cáo Nguyễn Khắc T2 do bị cáo Cao Thái N1 đại diện thỏa thuận số tiền cá cược với bên đối tác là bị cáo Lê Văn T4 (tất cả số tiền đánh bạc đều thông qua cho bị cáo Cao Văn V biết để kết xổ trước khi thả gà) rồi chia lại cho các con bạc, những người tham gia đánh bạc bên gà điều vàng của bị cáo Nguyễn Khắc T2 gồm: Bị cáo Nguyễn Khắc T2 tham gia số tiền 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng), trong đó số tiền đá giao hữu là 1.000.000đ (một triệu đồng), số tiền đá 10 ăn 8 là 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng); bị cáo Nguyễn Phú V1 tham gia số tiền 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng), trong đó số tiền đá giao hữu là 1.000.000đ (một triệu đồng), số tiền đá 10 ăn 8 là 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng); bị cáo Nguyễn Văn C tham gia đá giao hữu số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) và chịu phần tiền xác con gà là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng); bị cáo Nguyễn Thanh B1 tham gia đá 10 ăn 8 số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng); bị cáo Nguyễn Hoàng L1 tham gia đá 10 ăn 8 số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng); bị cáo Cao Thái N1 tham gia đá 10 ăn 8 số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng); bị cáo Lê Thành P1 tham gia đá 10 ăn 8 số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng); bị cáo Nguyễn Văn T1 tham gia đá 10 ăn 8 số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng); bị cáo Nguyễn Văn T3 (thường gọi N2) tham gia đá 10 ăn 8 số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng); bị cáo Lê Văn V2 tham tham gia đá 10 ăn 8 số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng); bị cáo Lê Minh H (thường gọi T6) tham gia đá 10 ăn 8 số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) và người đàn ông chưa xác định được họ tên, địa chỉ tham gia đá 10 ăn 8 số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng). Bên phía gà điều xanh của bị cáo Nguyễn Ái N, tất cả số tiền đánh bạc 18.300.000đ (mười tám triệu ba trăm nghìn đồng) do bị cáo Lê Văn T4 đại diện thỏa thuận thay cho bị cáo Nguyễn Ái N (bị cáo T4 được bị cáo N nhờ đại diện đặt cược dùm). Bị cáo Nguyễn Ái N một mình tham gia đánh bạc (con gà điều xanh của bị cáo N) với bên nhóm bị cáo Nguyễn Khắc T2 là 18.300.000đ (mười tám triệu ba trăm nghìn đồng). Số tiền các bị cáo cùng tham gia đánh bạc theo con gà điều vàng của bị cáo Nguyễn Khắc T2 là 18.300.000đ (mười tám triệu ba trăm nghìn đồng), tổng số tiền hai bên đánh bạc với nhau là 36.600.000đ (ba mươi sáu triệu sáu trăm nghìn đồng).
Sau khi hai bên thống nhất số tiền đánh bạc, bị cáo Cao Văn V kết xổ số tiền đánh bạc của mỗi bên là 18.300.000đ (mười tám triệu ba trăm nghìn đồng), tổng số tiền đánh bạc của hai bên là 36.600.000đ (ba mươi sáu triệu sáu trăm nghìn đồng). Đồng thời, bị cáo V yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn C và bị cáo Lê Văn T4 thả hai con gà ra đá với nhau. Kết quả, bị cáo Cao Văn V xác định gà điều vàng của bị cáo Nguyễn Khắc T2 thắng do gà điều xanh của bị cáo Nguyễn Ái N bỏ chạy. Tuy nhiên, bị cáo Cao Văn V vẫn chưa thu được tiền của bị cáo Nguyễn Ái N để chung cho bên thắng (bị cáo Cao Văn V cũng chưa nhận được tiền công tổ chức đánh bạc). - Trận thứ hai: Bị cáo Cao Văn V tiếp tục tổ chức cho gà bướm trắng, cân nặng 2,5 kilôgam của bị cáo Cao Văn T đá với gà điều vàng, cân nặng 2,5 kilôgam của bị cáo Nguyễn Văn Đ (gà của bị cáo Đặng nặng hơn gà của bị cáo Cao Văn T). Bị cáo Cao Văn V trực tiếp cân gà xác định trọng lượng, cung cấp băng keo và cựa sắt cho hai bên chủ gà. Gà bướm trắng do bị cáo Nguyễn Văn T1 ôm gà cho bị cáo Cao Văn T trồng cựa và ôm thả gà; con gà điều vàng được bị cáo Nguyễn Văn Đ yêu cầu bị cáo Nguyễn Tấn Đ1 (con ruột của bị cáo Đ) ôm gà cho bị cáo Nguyễn Văn T3 trồng cựa và ôm thả gà. Số tiền đánh bạc của mỗi bên là 9.200.000đ (chín triệu hai trăm nghìn đồng), trong đó đá giao hữu (đá đồng) số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) và gà của bị cáo Đặng chấp gà của bị cáo Cao Văn T đá 10 ăn 9 số tiền 7.000.000đ (bảy triệu đồng). Ngoài ra, xác con gà trị giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), bên thua muốn nhận lại xác gà thì phải trả cho bên thắng số tiền trên. Như vậy, tổng số tiền mà hai bên đánh bạc là 18.400.000đ (mười tám triệu bốn trăm nghìn đồng). Những người tham gia đánh bạc bên phía gà bướm trắng của bị cáo Cao Văn T gồm: Bị cáo Cao Văn T tham gia đá giao hữu số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) và chịu tiền xác con gà là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng); bị cáo Nguyễn Văn T1 tham gia đá 10 ăn 9 số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng); bị cáo Triệu Hoàng P2, sinh năm 1970 cư trú tại khóm D, thị trấn C, huyện T tham gia đá 10 ăn 9 số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng); những người tham gia đánh bạc bên phía gà điều vàng của bị cáo Nguyễn Văn Đ gồm: Bị cáo Nguyễn Văn Đ tham gia đá giao hữu số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) và chịu tiền xác con gà là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng); người đàn ông tên N3 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) tham gia đá giao hữu số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng); bị cáo Lê Văn T4 tham gia đá 10 ăn 9 số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng); bị cáo Nguyễn Ái N tham gia đá 10 ăn 9 số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng). Sau khi hai bên thống nhất số tiền đánh bạc, bị cáo Cao Văn V kết xổ số tiền đánh bạc của mỗi bên là 9.200.000đ (chín triệu hai trăm nghìn đồng), tổng số tiền đánh bạc của hai bên là 18.400.000đ (mười tám triệu bốn trăm nghìn đồng). Đồng thời yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn T3 và bị cáo Cao Văn T thả hai con gà ra đá với nhau. Trận gà đang diễn ra chưa có kết quả thắng, thua thì lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện. Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 28/2023/HS – ST, ngày 23 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh đã xét xử
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ái N phạm tội “đánh bạc” Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; - Xử phạt bị cáo Nguyễn Ái N 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án. Xử phạt bổ sung số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng). Ngoài ra cấp sơ thẩm còn xử phạt các bị cáo Cao Văn V, Trần Hiệp P, Nguyễn Khắc T2, Nguyễn Văn C, Cao Thái N1, Nguyễn Hoàng L1, Nguyễn Thanh B1, Nguyễn Phú V1, Lê Thành P1, Lê Văn V2, Lê Minh H, Nguyễn Văn T3, Lê Văn T4, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn T1, Triệu Hoàng P2, Cao Văn T, Nguyễn Tấn Đ1, xử lý vật chứng, án phí và dành quyền kháng cáo theo quy định. Ngày 06/6/2023 bị cáo Nguyễn Ái N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo Nguyễn Ái N, thừa nhận bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội đánh bạc là đúng với hành vi của bị cáo, bị cáo không kêu oan, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt được hưởng án treo. Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Sau khi xem xét toàn diện nội dung vụ án, lời trình bày của bị cáo: Vào ngày 26/01/2022, bị cáo tham gia đánh bạc cùng các bị cáo Cao Văn T, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Khắc T2, Nguyễn Văn C, Cao Thái N1, Nguyễn Hoàng L1, Nguyễn Thanh B1, Nguyễn Phú V1, Lê Thành P1, Lê Văn V2, Lê Minh H, Nguyễn Văn T3, Lê Văn T4, Nguyễn Văn Đ, Triệu Hoàng P2 và Nguyễn Tấn Đ1 tham gia đánh bạc dưới hình thức đá gà thắng thua bằng tiền, trong 02 trận gà bị cáo tham gia đều đủ định lượng. Do đó bản án sơ thẩm quy kết bị cáo Nguyễn Ái N phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ đúng pháp luật. Án sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Ái N 02 (hai) năm tù và phạt bổ sung 20.000.000 đồng là đã đánh giá đúng tính chất vụ án, tại phiên tòa hôm nay bị cáo trình bày hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, vợ bị cáo đang mang thai, xét thấy tình tiết giảm nhẹ này không phải là tình tiết đặc biệt mới, tình tiết này được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Ái N, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh. Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Ái N: Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo là còn trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm. [2] Đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Ái N thừa nhận: Vào ngày 26/01/2022, bị cáo cùng với các bị cáo Cao Văn T, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Khắc T2, Nguyễn Văn C, Cao Thái N1, Nguyễn Hoàng L1, Nguyễn Thanh B1, Nguyễn Phú V1, Lê Thành P1, Lê Văn V2, Lê Minh H, Nguyễn Văn T3, Lê Văn T4, Nguyễn Văn Đ, Triệu Hoàng P2 và Nguyễn Tấn Đ1 tham gia đánh bạc dưới hình thức đá gà được thắng thua bằng tiền diễn ra trong 02 trận gà, trận gà thứ nhất bị cáo tham gia với số tiền 18.300.000 đồng, tổng số tiền mà hai bên đánh bạc là 36.600.000đồng, trận gà thứ hai bị cáo tham gia số tiền 5.000.000 đồng, tổng số tiền mà hai bên đánh bạc là 18.400.000 đồng, ngoài bị cáo còn là người ôm gà đến để tham gia cá cược. Do đó bản án sơ thẩm quy kết bị cáo Nguyễn Ái N phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ đúng quy định pháp luật. [3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Ái N là nguy hiểm cho xã hội, bản thân bị cáo nhận thức được việc đánh bạc được thắng, thua bằng tiền là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã có 01 tiền án, vào ngày 03/7/2017 bị Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh phạt tù 07 (bảy) năm tù về tội “Giết người”, bị cáo đã chấp hành xong, chưa được xóa án tích, lẽ ra khi trở về địa phương bị cáo phải biết tu dưỡng bản thân trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình, xã hội, bị cáo không làm được như vậy lại tiếp tục thực hiện hành vi vi pháp pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật, không những gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương mà còn ảnh hưởng đến thực hiện đường lối của Đ2 và Nhà nước trong việc xây dựng nông thôn mới, nông thôn nâng cao, bị cáo có hai tình tiết tăng nặng tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, do đó Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù và phạt bổ sung 20.000.000 đồng là đã xem xét hết các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo và đánh giá đúng tính chất vụ án với tình hình tội phạm tổ chức đánh bạc và đánh bạc ngày càng gia tăng trên địa bàn huyện C và tỉnh Trà Vinh hiện nay, tại phiên tòa hôm nay bị cáo trình bày hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, vợ bị cáo đang mang thai, xét thấy tình tiết giảm nhẹ này không phải là tình tiết đặc biệt mới, tình tiết này được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ và xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Ái N, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh. [4] Đề nghị của Kiểm sát viên xét xử tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay phù hợp với tình tiết khách quan vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. [5] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ái N không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ái N. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 28/2023/HS-ST ngày 23/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ái N phạm tội “Đánh bạc” . Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ái N 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Phạt bổ sung số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách nhà nước. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Ái N phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận: -VKSND tỉnh Trà Vinh; - Sở Tư pháp; - TAND huyện C; - VKSND huyện C; - CA huyện C; - CC THADS huyện C; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Mến |