vanban.org

Bản án 43/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 28/04/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/04/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lê Minh K

Giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số: 86/2022/HS-ST ngày 28 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Xử phạt bị cáo Lê Minh K 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lê Minh K
  • Căn cứ chính? Điều 2 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2023/HS-PT
Ngày 28-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Diệp.

Các Thẩm phán:

+ Bà Nguyễn Thanh Minh Châu;

+ Ông Phạm Văn Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Mai Hương, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 17/2023/TLPT-HS ngày 06 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo Lê Minh K do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số: 86/2022/HS-ST ngày 28 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Lê Minh K, sinh năm 1997 tại tỉnh Tây Ninh; Nơi cư trú: khu phố K1, thị trấn K2, huyện K3, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Duy Thanh và bà Trịnh Thị Ái; vợ, con: chưa có;

Tiền án: Bản án Hình sự sơ thẩm số 07/2015/HS-ST ngày 05/02/2015 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xử phạt bị cáo Lê Minh K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự;

Tiền sự: không có;

Nhân thân: Quyết định số 808/QĐ-UBND ngày 26/6/2012 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Tân Biên về việc áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với bị cáo Lê Minh K thời hạn 24 tháng.

Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/5/2022 cho đến nay; Vắng mặt

Ngoài ra, trong vụ án này còn có các bị cáo khác không có kháng cáo, kháng nghị; Tòa án không triệu tập

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 08/02/2022, tại nhà bị cáo Nguyễn Văn T thuộc ấp Thạnh Sơn, xã Thạnh Tây, huyện K3, tỉnh Tây Ninh, T cùng vợ là Nguyễn Thị B đã dùng nhà ở của mình để cho Đinh Thị Minh TM, Đào Ngọc TH, Lê Minh K, Phạm Quốc KH, Đỗ Thành L, Nguyễn Thị N, Lê Văn C, Nguyễn Văn L đánh bạc, thu tiền xâu và thu lợi từ việc bán nước ngọt cho những tham gia đánh bạc. Bị cáo T là người cấp các dụng cụ đánh bạc gồm bài Tây, mền và đĩa sứ. Bị cáo B là người bán nước ngọt cho những người tham gia đánh bạc để thu lợi. Sòng bạc quy định: người làm cái sẽ sử dụng bộ bài Tây 52 lá chia cho mỗi người tham gia 02 lá bài, bài còn dư được để trong đĩa sứ cho người chơi lần lượt rút theo thứ tự. Tùy thuộc vào số điểm của 02 lá bài lớn hay nhỏ mà người chơi có thể chọn rút thêm 01 lá bài hoặc không rút, sau đó cộng số điểm các lá bài của mình lại với nhau để phân định thắng thua bằng tiền với nhà cái, số tiền đặt cược từ 10.000 đồng đến 50.000 đồng, điểm được tính từ 00 đến 09. Nếu 02 lá bài ban đầu cộng lại được 08 hoặc 09 điểm thì gọi là “nổ” và người làm cái được thắng gấp đôi số tiền đặt cược đồng thời đưa cho bị cáo T 10.000 đồng tiền xâu. Trong ngày 08/02/2022, bị cáo T và bị cáo B đã thu 150.000 đồng tiền xâu và thu lợi từ việc bán nước ngọt cho những người đánh bạc là 360.000 đồng. Đến 19 giờ 00 cùng ngày, Công an xã Thạnh Tây, huyện Tân Biên kiểm tra phát hiện, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 4.810.000 đồng và thu giữ trên người các bị cáo 5.690.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc được xác định là 6.410.000 đồng.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 86/2022/HS-ST ngày 28 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Lê Minh K phạm tội “Đánh bạc”

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Lê Minh K 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt của các bị cáo khác; các biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 06 tháng 01 năm 2023, bị cáo Lê Minh K có đơn kháng cáo xin được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ.

Bị cáo đã được Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị: không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo vắng mặt nên không tranh luận và nói lời nói sau cùng

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Theo hồ sơ thể hiện trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm. Nên hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đều hợp pháp.

Việc bị cáo vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo Lê Minh K.

Về tội danh và điều luật áp dụng: vào khoảng 15 giờ 00 ngày 08/02/2022, tại nhà của bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Thị B thuộc ấp Thạnh Sơn, xã Thạnh Tây, huyện K3, tỉnh Tây Ninh, bị cáo T và Bé cung cấp bài tây, mền và đĩa sứ làm chiếu bạc để các bị cáo Đinh Thị Minh TM, Đào Ngọc TH, Lê Minh K, Phạm Quốc KH, Đỗ Thành L, Nguyễn Thị N, Lê Văn C và Nguyễn Văn L đánh “bài bốc” thắng thua bằng tiền, nhằm thu tiền xâu và thu lợi từ việc bán nước. Đến 19 giờ 00 cùng ngày thì bị Công an xã Thạnh Tây kiểm tra phát hiện, bắt quả tang. Số tiền thu giữ tại chiếu bạc và trên người của các bị cáo dùng để đánh bạc được xác định là 6.410.000 đồng. Toà án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị B, Đinh Thị Minh TM, Lê Minh K, Nguyễn Thị N, Đào Ngọc TH, Đỗ Thành L, Phạm Quốc KH, Lê Văn C, Nguyễn Văn L phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng; từ hành vi này làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình và là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương.

Khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm có xem xét:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo KH có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là thuộc trường hợp “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo KH có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo KH tuy tham gia đánh bạc với số tiền 230.000 đồng nhưng bị cáo có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo không lấy đó là bài học cho bản thân, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo KH 06 (tháng) tù là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, không nặng.

Bị cáo kháng cáo nhưng không có mặt tại phiên tòa, mặc dù được Tòa án đã triệu tập hợp lệ; Bị cáo không cung cấp thêm tài liệu chứng minh có tình tiết giảm nhẹ mới nên không thỏa mãn yêu cầu kháng cáo của bị cáo. Nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo;

Từ những phân tích nêu trên, chấp nhận một phần đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí: Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

2. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lê Minh K

3. Giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số: 86/2022/HS-ST ngày 28 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Lê Minh K 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

4. Về án phí: Căn cứ vào điểm b 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Lê Minh K phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ