- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngô Thị O - Vũ Thành L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngô Thị O.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NINH Bản án số:43/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28/9/2023 " “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Anh Đức
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thương và ông Nguyễn Đức Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Dương - Thư ký Toà án nhân dân TP Uông Bí
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Linh – Kiểm sát viên
Ngày 28/9/2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Uông Bí xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 71/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2023 về việc: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 07/9/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 30/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22/9/2023 giữa:
1. Nguyên đơn: chị Ngô Thị O, sinh năm: 1986 Địa chỉ: thôn Mỹ S, xã Cẩm L, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Vắng mặt tại phiên toà, có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Vũ Thành L , sinh năm 1985
Địa chỉ: tổ 2, khu Bí Th, phường Phương Đ, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 10/8/2023, lời khai tại các buổi làm việc tại Tòa án, chị Ngô Thị O trình bày: Chị Ngô Thị O và anh Vũ Thành L kết hôn năm 2007, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND phường Phương Đ, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn giữa hai vợ chồng hay xảy ra mâu thuẫn trong cuộc sống. Nguyên nhân là do quan điểm sống giữa chị O và anh L không hợp nhau nên có ở gần cũng thường xuyên bất đồng, cãi cọ. Dù hai bên gia đình đã nói chuyện, khuyên giải nhiều lần nhưng anh L không chịu thay đổi bản thân, hai vợ chồng vẫn không thể tìm được tiếng nói chung. Càng ngày cuộc sống chung càng căng thẳng, tình cảm vợ chồng phai nhạt dần. Chị O và anh L hiện nay đã sống ly thân. Chị O nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn nên chị O đề nghị Toà án giải quyết cho chị O được ly hôn với anh L .
-Về con chung: Chị O và anh L có một con chung là Vũ Anh K, sinh ngày 15/11/2007. Hiện nay con chung đang ở cùng anh L và được anh L nuôi dạy và chăm sóc tốt. Quan điểm của chị O theo nguyện vọng của con chung và cũng do hiện nay chị không có công việc và thu nhập ổn định nên chị đề nghị để anh L trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị O tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000đ (hai triệu đồng)/ 1 tháng.
- Về tài sản chung: Chị O và anh L không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết về tài sản.
* Đối với bị đơn anh Vũ Thành L: Toà án nhân dân TP Uông Bí đã triệu tập hợp lệ anh L nhiều lần nhưng anh L không đến Toà án để giải quyết vụ án, nên không biết rõ được quan điểm của anh L về việc giải quyết vụ án.
Tại biên bản lấy lời khai của cháu Vũ Anh Kiệt, sinh ngày 15/11/2007, cháu Vũ Anh K có nguyện vọng muốn được ở với bố.
Tại biên bản xác minh về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng: Ông Trần Đức Nh, khu trưởng khu Bí Th, phường Phương Đ, TP Uông Bí cũng xác nhận nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa chị O và anh L đúng như chị O đã trình bày. Nếu chị O có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh L, đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng quy định pháp luật. Ông Trần Đức Nh cũng cho biết chị O và anh L có một con chung, hiện nay cháu đang ở cùng với bố và ông bà nội. Cháu K đã quen với môi trường sống và được anh L chăm sóc tốt. Đề nghị Tòa án xem xét để đảm bảo cho cuộc sống ổn định của cháu K sau này.
Người làm chứng bà Nguyễn Thị Ph là mẹ đẻ anh Vũ Thành L có lời khai thể hiện: Nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị O và anh L đúng như chị O trình bày. Tất cả các văn bản của Tòa án giao cho anh Vũ Thành L đã được bố đẻ anh L là ông Vũ Văn B và bà nhận thay trong lúc anh L vắng nhà. Ông B và bà cũng đã giao các thông báo của Tòa án cho anh L nhưng vì lý do công việc nên anh L không đến Tòa án theo đúng thời gian và địa điểm như thông báo của Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng : Tòa án đã thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử .
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị xử chấp nhận chị Ngô Thị O được ly hôn anh Vũ Thành L. Giao con chung Vũ Anh K cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng. Chị O cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000đ (hai triệu đồng)/ 1 tháng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý và giải quyết vụ án dân sự về tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa các đương sự có địa chỉ tại TP Uông Bí, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh theo qui định tại khoản 1 điều 28, Điểm a khoản 1 điều 35, Điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Vũ Thành L đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, nguyên đơn chị Ngô Thị O có đơn xin xử án vắng mặt. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 và Khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung vụ án:
.Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác do nguyên đơn cung cấp và các chứng cứ do Tòa án thu thập có trong hồ sơ vụ án đã xác định chị Ngô Thị O và anh Vũ Thành L đủ điều kiện kết hôn và tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND phường Phương Đ, TP Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh năm 2007. Chị O có yêu cầu xin ly hôn với anh L bởi chị O xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng ly thân đã lâu. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa hai vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống. Dù đã được gia đình hai bên khuyên giải nhưng vẫn không giải quyết được mâu thuẫn. Hai vợ chồng không còn quan tâm,chăm sóc và trách nhiệm với nhau. Xét thấy cuộc sống vợ chồng của chị O và anh L không hạnh phúc, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị O là có cơ sở phù hợp với qui định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình.
.Về con chung: Chị Ngô Thị O và anh Vũ Thành L có một con chung là Vũ Anh K, sinh ngày 15/11/2007. Chị O có quan điểm do chị chưa có công việc và thu nhập ổn định nên chị đề nghị giao cho anh Vũ Thành L trực tiếp nuôi dưỡng con chung và chị O cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000đ (hai triệu đồng)/ 1 tháng. Tại biên bản lấy lời khai ngày 31/8/2023, cháu Vũ Anh Kiệt thể hiện quan điểm nếu bố mẹ ly hôn, cháu muốn được ở với bố vì cháu vẫn đang ở cùng bố và được bố cháu chăm sóc rất tốt. Tại biên bản xác minh ngày 10/8/3023, ông Trần Đức Nh khu trưởng khu Bí Th, phường Phương Đ cũng xác nhận cháu K hiện vẫn đang ở cùng với bố là anh Vũ Thành L và được anh L chăm sóc tốt. Để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện về mọi mặt của con chung. Hội đồng xét xử xét thấy hiện tại chị O có chưa có công việc và thu nhập ổn định để đảm bảo nuôi con, anh L có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Do vậy cần giao con chung cho anh Vũ Thành L tiếp tục nuôi dưỡng và chị Ngô Thị O phải cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000đ (hai triệu đồng)/ 1 tháng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
. Về tài sản chung: Chị O không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về tài sản; anh Vũ Thành L vắng mặt, không có quan điểm về tài sản. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về vấn đề tài sản.
Về án phí: Chị Ngô Thị O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51,56,81,82,83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a, khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngô Thị O.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị O được ly hôn với anh Vũ Thành L.
2.Về con chung: Giao con chung Vũ Anh K, sinh ngày 15/11/2007 cho anh Vũ Thành L trực tiếp nuôi dưỡng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi).
Chị Ngô Thị O phải cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000đ (hai triệu đồng)/ 1 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Chị Ngô Thị O có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Đồng thời chị O còn có quyền yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu anh L không nuôi dưỡng được con chung.
3.Về án phí: Chị Ngô Thị O phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị O đã nộp theo biên lai số 0007103 ngày 14/8/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Uông Bí. Chị O phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
5.Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND TP Uông Bí;
- TAND tỉnh Q. Ninh;
- THADS TP Uông Bí;
- UBND p. Phương Đ, TP Uông Bí;
- Lưu hồ sơ, văn phòng.
Trần Anh Đức
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Dung – Nguyễn Thị Xuân
Vũ Huy Hùng
| Nơi nhận - Các đương sự; - VKSND TP Uông Bí; - TAND tỉnh Q. Ninh; - THADS TP Uông Bí; - UBND p. Phương Đ, TP Uông Bí; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Huy Hùng |