- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cao Thị Ngọc H- Bùi Duy L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Cao Thị Ngọc H đối với bị đơn ông Bùi Duy L về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2023/HNGĐ-ST Ngày: 12 - 6 - 2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Minh Trí;
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Lưu Kim Hằng – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 138/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2023/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Cao Thị Ngọc H, sinh năm 1990; địa chỉ thường trú: Tổ 4, Khu phố Chánh Lộc 4, phường Ch, thành phố Th, tỉnh Bình Dương; địa chỉ hiện nay: phường H, thành phố Th, tỉnh Bình Dương, có đơn xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Bùi Duy L, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ 4, Khu phố Chánh Lộc 4, phường Ch, thành phố Th, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 27/3/2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Cao Thị Ngọc H trình bày: Bà Cao Thị Ngọc H và ông Bùi Duy L tự nguyện tìm hiểu nhau, kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Ch, thành phố Th, tỉnh Bình Dương vào ngày 03/8/2011. Quá trình chung sống, vợ chồng sống với nhau hạnh phúc được 02 năm đầu, đến năm 2013 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do ông L không chăm lo cho gia đình mà thường xuyên nhậu. Bà H khuyên rất nhiều và ông L hứa sẽ thay đổi nhưng rồi không những không thay đổi mà càng ngày nhậu càng nhiều, mỗi lần nhậu về là kiếm chuyện chửi bới, có khi đánh bà H. Khoảng năm 2019, do không thể chịu đựng được nên bà đã bỏ về nhà mẹ ruột tôi sinh sống cho đến nay. Nay bà H nhận thấy không thể tiếp tục sống chung, tình cảm bà H dành cho ông L không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông Bùi Duy L.
Về con chung: Bà H và ông L có 02 người con chung là cháu Bùi Ngọc Mỹ Ch, sinh ngày 11/8/2013 và Bùi Ngọc Bảo Ch, sinh ngày 31/5/2012. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bùi Ngọc Mỹ Ch, sinh ngày 11/8/2013 vì cháu Ch đang sống chung với bà H. Đồng ý để ông L được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bùi Ngọc Bảo Ch1, sinh ngày 31/5/2012 vì hiện nay cháu Ch1 đang ở với ông L.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn ông Bùi Duy L: Ông Bùi Duy L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các thông báo công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông L không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố Tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại các điều 70, 71, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại các điều 70, 72, 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến và yêu cầu khắc phục gì thêm về tố tụng.
+ Về mặt nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy: Mâu thuẫn giữa bà H và ông L đã trầm trọng, không thể hàn gắn làm cho mục đích của hôn nhân không đạt được nên đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Về con chung, nhận thấy cháu Bùi Ngọc Mỹ Ch, sinh ngày 11/8/2013 và cháu Bùi Ngọc Bảo Ch, sinh ngày 31/5/2012 đã trên 7 tuổi. Qua làm việc, cháu Ch1 có nguyện vọng tiếp tục sống chung với ông L, còn cháu Ch có nguyện vọng tiếp tục sống chung với bà H nên căn cứ theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu Ch cho bà H được trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Ch1 cho ông L trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, qua ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.
Về tố tụng: Nguyên đơn bà Cao Thị Ngọc H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Bùi Duy L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông L kết hôn, có đăng ký kết hôn tại phường Chánh Mỹ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương vào ngày 03/8/2011 theo đúng quy định về đăng ký kết hôn tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Nguyên đơn bà H cho rằng: Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông L thường xuyên nhậu, mỗi lần nhậu về là kiếm chuyện chửi bới, có khi đánh bà H. Bà H khuyên rất nhiều nhưng ông L không thay đổi. Nay bà H xác định không còn tình cảm với ông L nên yêu cầu được ly hôn với ông Bùi Duy L.
Xét thấy: Bị đơn ông Bùi Duy L đã được triệu tập nhiều lần đến làm việc nhưng ông L không chấp hành và cũng không có bất kỳ ý kiến phản hồi nào đối với yêu cầu của bà H, chứng tỏ ông L không có thiện chí hàn gắn tình cảm gia đình. Qua xác minh tại địa phương cũng được biết giữa bà H và ông L đã không còn sống chung với nhau. Do tình trạng mâu thuẫn giữa bà H và ông L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà H yêu cầu được ly hôn với ông L là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Bà H và ông L có 02 con chung là cháu Bùi Ngọc Mỹ Ch, sinh ngày 11/8/2013 và Bùi Ngọc Bảo Ch, sinh ngày 31/5/2012. Nhận thấy, hiện cháu Ch1 đang do ông L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và có nguyện vọng tiếp tục sống chung với ông L, còn cháu Ch đang do bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và có nguyện vọng tiếp tục sống chung với bà H. Về phía ông L không có ý kiến về con chung nên việc giao cháu Ch cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giao cháu Ch1 cho ông L tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc là chính đáng và phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà H phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 203, Khoản 1 Điều 227, 228, 238, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Cao Thị Ngọc H đối với bị đơn ông Bùi Duy L về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Cao Thị Ngọc H được ly hôn với ông Bùi Duy L.
- Về con chung:
+ Giao con chung là cháu Bùi Ngọc Mỹ Ch, sinh ngày 11/8/2013 cho bà Cao Thị Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng.
+ Giao con chung là cháu Bùi Ngọc Bảo Ch, sinh ngày 31/5/2012 cho ông Bùi Duy L trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Cao Thị Ngọc H không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai có quyền cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom con để gây khó khăn, cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con của người trực tiếp nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung đối với người không trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Vì quyền và lợi ích hợp pháp của con chung là Bùi Ngọc Mỹ Ch và Bùi Ngọc Bảo Ch, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Cao Thị Ngọc H không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí sơ thẩm: Bà Cao Thị Ngọc H phải chịu số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2021-0002701 ngày 06/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
3. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND, VKSND tỉnh Bình Dương;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND thành phố Thủ Dầu Một;
- Chi cục THADS thành phố Thủ Dầu Một;
- UBND phường Ch;
- Đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, VP.
Hồ Thị Hằng
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Thủ Dầu Một; - Chi cục THADS thành phố Thủ Dầu Một; - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hoa Hạnh |