vanban.org

Bản án 43/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Quyền T được ly hôn với ông Võ Văn C.

Về con chung: Giao cháu Võ Tùng A, sinh ngày 22/8/2018 cho bà Nguyễn Quyền T tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Võ Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu Võ Tùng A mà không ai được cản trở. Về án phí: Bà Nguyễn Quyền T chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng). Ngày 28/12/2022,…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Quyền T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Nguyễn Quyền T được ly hôn với ông Võ Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH
TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 43/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 05 - 7 - 2023

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Việt

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Việt Bắc

Ông Lâm Hữu Đoàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Lụa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau

Ngày 05 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 417/2022/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2022 về việc tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2023 giữa:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Quyền T, sinh năm 1994 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp 3, thị trấn VV, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Bị đơn: Ông Võ Văn C, sinh năm 1995 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp A, xã NP, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 26/12/2022 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Quyền T trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Võ Văn C chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 11/7/2018 tại Ủy ban nhân dân xã NP, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Trong thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian gần đây vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cải xô sát nhau, ông C không chung thủy và không quan tâm đến gia đình, do không còn tình cảm và chung sống không có hạnh phúc nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2022 đến nay. Hiện mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn nên bà yêu cầu giải quyết ly hôn với ông C.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Võ Tùng A, sinh ngày 22/8/2018. Bà đang nuôi dưỡng cháu Tùng A. Bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Tùng A, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung là không có nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục: Tòa án đã triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Võ Văn C vắng mặt không có lý do, nguyên đơn bà Nguyễn Quyền T có đơn xin vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với ông C và bà T.

[2] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Quyền T và ông Võ Văn C chung sống với nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 11/7/2018 tại Ủy ban nhân dân xã NP, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông C được xác lập hợp pháp, thể hiện là hai người tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định. Quá trình chung sống giữa bà T và ông C có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong Cộc sống, thường xuyên cãi vã xô xát với nhau, chung sống không có hạnh phúc nên hai người đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2022 đến nay là thực tế có xảy ra. Kể từ khi xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân đến nay hai bên không thể dàn xếp, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Quá trình giải quyết, Tòa án tiến hành hòa giải để hai bên hàn gắn nhưng không có kết quả. Hiện tại quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, Cộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên giải quyết cho hai người ly hôn là phù hợp. Vì vậy, bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông C là có cơ sở chấp nhận.

[3] Về con chung: Bà T và ông C có 01 con chung tên Võ Tùng A, sinh ngày 22/8/2018. Cháu Tùng A chưa thành niên, bà T đang nuôi cháu vẫn đảm bảo tốt về mọi mặt, Cộc sống của cháu đã ổn định, ông C cũng có ý kiến gì về yêu cầu nuôi con của bà T. Do đó, giao cháu Tùng A cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Bà T không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con nên tạm thời không xét. Ông C có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu Tùng A mà không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung: Bà T xác định giữa bà và ông C không có tài sản chung, không ai yêu cầu giải quyết nên không xét.

[5] Về án phí: Bà T chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng. Ngày 28/12/2022, bà T nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh được chuyển thu án phí. Ông C không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Quyền T được ly hôn với ông Võ Văn C.

Về con chung: Giao cháu Võ Tùng A, sinh ngày 22/8/2018 cho bà Nguyễn Quyền T tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Võ Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu Võ Tùng A mà không ai được cản trở.

Về án phí: Bà Nguyễn Quyền T chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng). Ngày 28/12/2022, bà T nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0010897 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh được chuyển thu án phí.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà Nguyễn Quyền T và ông Võ Văn C vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ