vanban.org

Bản án 43/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Kim T.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Kim T được ly hôn anh Võ Mến A. 2/ Về con chung: Chị Bùi Kim T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Kim T - Võ Mến A"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Kim T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỒNG DÂN
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 30/6/2023
“V/v tranh chấp xin ly hôn và nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Bình

- Các Hội thẩm nhân dân 1/ Ông Lại Thiện Phong

2/ Bà Lê Thị Tuyết Trinh

- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Văn Quy – Cán bộ Toà án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân tham gia phiên tòa: Ông Danh Đạt - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 06 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hồng Dân mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 62/2023/TLST–HNGĐ, ngày 07 tháng 03 năm 2023 về việc tranh chấp xin ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2023/QĐXXST–HNGĐ, ngày 26 tháng 05 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Bùi Kim T, sinh năm 1982

Địa chỉ: ấp NLII, xã NTLA, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu

2. Bị đơn: Anh Võ Mến A, sinh năm 1982

Địa chỉ: ấp NLII, xã NTLA, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.

(Chị Bùi Kim T vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Võ Mến A vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 27/01/2023 và tại bản tự khai ngày 07/3/2023 nguyên đơn chị Bùi Kim T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Võ Mến A có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ninh Thạnh Lợi A, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 14/4/2011. Trong thời gian đầu, vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẩn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau khoảng 02 năm nay. Nay chị nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Võ Mến A.

Về quan hệ con chung: Chị T xác định trong quá trình chung sống, giữa chị và anh Võ Mến A có 02 người con chung là cháu Võ Trường Vũ, sinh năm 2002 và cháu Võ Khải Nghiêm, sinh năm 2004. Hiện tại cháu Vũ và cháu Nghiêm đã lớn và đã trưởng thành nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, chị không có yêu cầu gì khác.

Đối với bị đơn anh Võ Mến A: Tòa án có tiến hành giao thông báo thụ lý và tiến hành lấy lời khai đối với anh Võ Mến A nhưng anh Võ Mến A không có mặt ở địa phương nên không thể tiến hành giao thông báo thụ lý và không thể tiến hành lấy lời khai đối với anh Võ Mến A. Bên cạnh đó, Tòa án có tiến hành niêm yết các thủ tục theo qui định pháp luật do anh Võ Mến A không có mặt ở địa phương. Chính quyền địa phương cũng xác định, anh Võ Mến A vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp NLII, xã NTLA, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu và hiện tại không có ở địa phương nhưng lâu lâu anh Võ Mến A có về địa phương một lần.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi tham gia tố tụng cho đến nay, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Kim T được ly hôn anh Võ Mến A;

2. Về quan hệ con chung: Chị Bùi Kim T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết;

3. Về quan hệ tài sản: Chị Bùi Kim T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Ngoài ra đương sự còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật: Chị Bùi Kim T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Võ Mến A nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp xin ly hôn” là đúng quy định.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Võ Mến A có nơi đăng ký thường trú tại ấp NLII, xã NTLA, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[3] Nguyên đơn chị Bùi Kim T tuy rằng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với chị T. Bị đơn anh Võ Mến A vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh Võ Mến A.

Về nội dung:

[4] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Võ Mến A có tổ chức đám cưới với nhau trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ninh Thạnh Lợi A, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 14/4/2011 nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh Võ Mến A là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống đến nay, chị T xác định chị và anh Võ Mến A có phát sinh nhiều mâu thuẩn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chị T không thể hàn gắn với anh Võ Mến A được nữa. Hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau khoảng 02 năm nay. Nay chị T nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Võ Mến A. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành xác minh được biết giữa chị T và anh Mến Anh có phát sinh mâu thuẩn, vợ chồng lúc sống chung thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau khoảng 02 năm nay. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Bùi Kim T được ly hôn anh Võ Mến A.

[5] Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống chị T xác định giữa chị và anh Võ Mến A có 02 người con chung là cháu Võ Trường Vũ, sinh năm 2002 và cháu Võ Khải Nghiêm, sinh năm 2004. Hiện tại cháu Vũ và cháu Nghiêm đã lớn và đã trưởng thành nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6] Về quan hệ tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Kim T.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Kim T được ly hôn anh Võ Mến A.

2/ Về con chung: Chị Bùi Kim T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

3/ Về tài sản chung: Chị Bùi Kim T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

4/ Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Bùi Kim T phải nộp số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng chị T đã dự nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0006747 ngày 07/03/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay chuyển thu toàn bộ số tiền trên thành án phí.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp và cấp trên được quyền kháng nghị bản án này theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ