vanban.org

Bản án 43/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung"
  • Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỊNH QUÁN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31-3-2023
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Thái

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Sơn và bà Nguyễn Thị Quy

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Trang- Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán: Ông Nguyễn Hữu Thọ-Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 504/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2022 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14/3/2023, giữa:

- Nguyên đơn: Anh Tằng Nhật Ố, sinh năm: 1979 (có mặt).

Địa chỉ: Số X, xã P, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Chị Lầm Sắm Ph, sinh năm: 1982 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số X, xã P, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Tằng Nhật Ố trình bày:

Sau thời gian quen biết và tìm hiểu nhau, anh và chị Ph tự nguyện đi đến kết hôn, được UBND xã Phú Vinh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 119 ngày 23/10/2007.

Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình hai người không hợp nhau quan điểm sống hai bên bất đồng, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mỗi lần cãi nhau là chị Ph lại bỏ nhà đi, cả hai không tìm được tiếng nói chung dẫn đến không hòa hợp trong đời sống hôn nhân khiến cho cuộc sống hôn nhân ngày càng trầm trọng, hai người đã sống ly thân. Hiện nay anh không còn tình cảm gì với chị Ph nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Lầm Sắm Ph.

Về con chung: Anh và chị Ph có 01 con chung là Tằng Tuệ L, sinh ngày 07/4/2009, hiện nay cháu L đang do anh trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị Ph cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn chị Lầm Sắm Ph đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến làm việc, tham gia phiên họp công khai chứng cứ, phiên hòa giải, phiên tòa nhưng chị Ph đều vắng mặt nên không có lời khai.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án:

Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Tằng Nhật Ố, cho anh Ố được ly hôn với chị Lầm Sắm Ph.

+ Về con chung: đề nghị giao con chung là Tằng Tuệ L, sinh ngày 07/4/2009 cho anh Tằng Nhật Ố trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời chị Ph không phải cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

+ Về án phí: Anh Ố phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Tằng Nhật Ố có mặt, bị đơn chị Lầm Sắm Ph đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Ph.

[2] Về quan hệ pháp luật: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: anh Ố và chị Ph tự nguyện đi đến kết hôn, được UBND xã P, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 119 ngày 23/10/2007 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Tòa án đã xác minh tại địa phương (xã P, huyện Định Quán) về tình trạng hôn nhân của anh Ố và chị Ph, kết quả như sau: tình trạng hôn nhân của anh Ố và chị Ph là trầm trọng, chị Ph đã bỏ về địa phương sống từ năm 2017 đến nay, anh Ố và chị Ph đã sống ly thân.

Bị đơn chị Lầm Sắm Ph đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến làm việc, tham gia phiên họp công khai chứng cứ, phiên hòa giải, phiên tòa nhưng chị Ph đều vắng mặt, cũng không có ý kiến phản hồi về các nội dung theo đơn khởi kiện của nguyên đơn. Điều này cho thấy chị Ph không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân với anh Ố nữa, không có thiện chí hòa giải để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ với nhau. Do chị Ph không đến tham gia tố tụng tại Tòa án, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; căn cứ khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Theo tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án xác định quan hệ hôn nhân giữa anh Ố và chị Ph đã là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Tằng Nhật Ố về việc xin ly hôn với chị Lầm Sắm Ph.

[3.2] Về con chung: Anh Ố và chị Ph có 01 con chung là Tằng Tuệ L, sinh ngày 07/4/2009, hiện nay con chung đang do anh Ố trực tiếp nuôi dưỡng. Xét hiện nay anh Ố đang có công việc và thu nhập ổn định, đủ khả năng nuôi con. Cháu L được đi học đầy đủ, phát triển thể chất bình thường. Mặt khác Tằng Tuệ L cũng có nguyện vọng được ở với anh Ố.

Chị Lầm Sắm Ph không đến Tòa án tham gia tố tụng; không có ý kiến, yêu cầu gì về con chung. Từ đó cho thấy chị Ph không có thiện chí hòa giải về vấn đề chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu giao cháu L cho anh Ố là có cơ sở nên chấp nhận giao cháu L cho anh Ố tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: do chị Ph không yêu cầu, nên tạm thời anh Ô không phải cấp dưỡng nuôi con.

[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí: Anh Tằng Nhật Ố phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình theo quy định.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 91, 147, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 8, 9, 51, 56 56, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Tằng Nhật Ốn.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Tằng Nhật Ố được ly hôn với chị Lầm Sắm Ph.

2. Về con chung: Giao con chung là Tằng Tuệ L, sinh ngày 07/4/2009 cho anh Ố trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời chị Ph không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Lầm Sắm Ph có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

Vì quyền lợi của con chung chưa thành niên, các bên được quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Anh Tằng Nhật Ố phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình. Số tiền 300.000đ tạm ứng án phí anh Ố đã nộp, theo Biên lai thu số 0004004 ngày 15/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Định Quán được trừ vào tiền án phí anh Ố phải chịu.

Nguyên đơn dược quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ