- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của chị Lê Thúy D.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2023/HNGĐ-ST Ngày: 14/4/2023. “V/v tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Nam;
Ông Lê Văn Được.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Đầy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh: Ông Nguyễn Tấn An, Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 176/2023/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 02 năm 2023 về việc“Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2023/QĐXXST- HNGĐ, ngày 31 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thúy D, sinh năm 1970. Địa chỉ: Khóm III, thị trấn Mỹ L, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Có mặt
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1972. Địa chỉ: Ấp Hạnh M, xã Mỹ Long B, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Lê Thúy D trình bày:
Về hôn nhân: Vào năm 1996, chị và anh Nguyễn Văn M được sự mai mối của hai bên gia đình nên tiến tới hôn nhân, có tiến hành lễ cưới theo phong tục tập quán nhưng không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, đến tháng 2000 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh M thay đổi tính tình, không lo làm ăn nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cãi, anh M còn đánh đập chị nhiều lần, giữa vợ chồng không còn quan tâm nhau làm cho tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng chị đã ly thân từ năm 2014 cho đến nay. Nay chị yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn M.
- Về con chung tên: Nguyễn Thúy D, sinh ngày 27/8/1997 và Nguyễn Duy Ph, sinh ngày 27/8/2001 đã thành niên nên chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị không tranh chấp, không khởi kiện.
- Về số nợ phải thu, phải trả: Chị không tranh chấp, không khởi kiện. Ngoài ra, chị không có yêu cầu gì khác.
Tại bản khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh Nguyễn Văn M trình bày:
- Về hôn nhân: Quá trình xác lập hôn nhân chị D trình bày là đúng. Quá trình chung sống, đến năm 2014 thì giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do giữa vợ chồng thường xảy ra cự cãi về lối sống nên vợ chồng anh đã ly thân từ năm 2014 cho đến nay, không liên lạc. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh M đồng ý ly hôn với chị Lê Thúy D.
- Về con chung tên: Nguyễn Thúy D, sinh ngày 27/8/1997 và Nguyễn Duy Ph, sinh ngày 27/8/2001 đã thành niên nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và số nợ phải thu, phải trả của vợ chồng: Anh không tranh chấp, không khởi kiện. Ngoài ra, anh không có yêu cầu gì khác.
Lời phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý vụ án, xác định quan hệ tranh chấp, xác định người tham gia tố tụng, thành phần tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định của pháp luật. Các văn bản tố tụng từ khi nhận đơn khởi kiện đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử đều được tống đạt đầy đủ cho các đương sự. Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 9, 14 và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận chị Lê Thúy D và anh Nguyễn Văn M là vợ chồng.
- Về con chung: Nguyễn Thúy D, sinh ngày 27/8/1997 và Nguyễn Duy Ph, sinh ngày 27/8/2001 đã thành niên, chị D và anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ phải thu, phải trả: Chị D và anh M không khởi kiện, không tranh chấp nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị Lê Thúy D phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Phần kiến nghị: Không có
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Lê Thúy D khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn M, địa chỉ: Ấp Hạnh M, xã Mỹ Long B, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Căn cứ vào Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang.
Về hôn nhân: Chị D và anh M sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1996 cho đến năm 2000 thì phát sinh mâu thuẫn, thời gian chung sống chị D và anh M có đủ điều kiện đăng ký kết hôn, nhưng chị D và anh M không đăng ký kết hôn theo quy định, từ đó xác định đây là hôn nhân không hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị D xác định: Nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng chị là do anh Mthay đổi tính tình, không lo làm ăn nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cãi, anh M còn đánh đập chị nhiều lần, giữa vợ chồng không còn quan tâm nhau nên vợ chồng chị đã ly thân từ năm 2014 cho đến nay, hiện tại chị không còn tình cảm với anh M. Chị cương quyết xin ly hôn với anh Nguyễn Văn M.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh M xác định: Nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng anh là do không hợp nhau về lối sống và do kinh tế gia đình nên vợ chồng anh thường xuyên xảy ra cự cải. Vợ chồng anh không còn thương yêu quan tâm chăm sóc đến nhau, làm cho tình cảm vợ chồng không còn nên vợ chồng anh đã ly thân từ năm 2014 cho đến nay. Nay chị D yêu cầu ly hôn anh M đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị Lê Thúy D.
Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, chị D và anh M xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng anh, chị là trầm trọng, không hàn gắn được. Chị D cương quyết xin ly hôn với anh M. Anh M đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị D. Tuy nhiên, tại thời điểm xác lập quan hệ hôn nhân chị D và anh M, có đủ điều kiện đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng chị D và anh M không đăng ký kết hôn là vi phạm quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ Điều 9, Điều 14 và Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử không công nhận chị D và anh M là vợ chồng.
Về con chung: Nguyễn Thúy D, sinh ngày 27/8/1997 và Nguyễn Duy Ph, sinh ngày 27/8/2001 đã thành niên chị D và anh M không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ phải thu, phải trả: Chị D và anh M không khởi kiện, không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét
Về án phí: Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị Lê Thúy D phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 235, 273 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 9, 14 và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử: Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của chị Lê Thúy D.
- Về hôn nhân: Không công nhận chị Lê Thúy D và anh Nguyễn Văn M là vợ chồng.
- Về con chung: Nguyễn Thúy D, sinh ngày 27/8/1997 và Nguyễn Duy Ph, sinh ngày 27/8/2001 đã thành niên chị D và anh M không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ phải thu, phải trả: Chị D và anh M không khởi kiện, không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Lê Thúy D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Diễm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0015613, ngày 09 tháng 02 năm 2023 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang thu. Chị Diễm đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thúy D và anh Nguyễn Văn M có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Cầu Ngang; - CCTHADS huyện Cầu Ngang; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Phương Hà |