vanban.org

Bản án 43/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 28/07/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện đòi tiền của bà Lê Thị Bích T đối với bà Nguyễn Thị Ngọc H về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản".

Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc H phải trả cho bà Lê Thị Bích T tổng số tiền 87.304.000 đồng (tám mươi bảy triệu, ba trăm lẻ tư nghìn đồng). Trong đó: tiền vay là 80.000.000 đồng, tiền lãi là 7.304.000 đồng. Kể từ thời điểm án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu mà người phải thi hà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện đòi tiền của bà Lê Thị Bích T đối với bà Nguyễn Thị Ngọc H về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản".
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2023/DS-ST
Ngày 28 - 7 - 2023
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuân

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trịnh Hồng Hải

Bà Nguyễn Thị Hồng

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Đình Vui - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tráng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 101/2023/TLST-DS ngày 13 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2023/QĐXXST-DS ngày 26/06/2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 101/2023/QĐST-DS ngày 10/7/2023 giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Bà Lê Thị Bích T, sinh năm 1973, địa chỉ: số 246/55 đường V, phường T, quận K, thành phố Đ. có mặt

+ Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1977; Địa chỉ: tổ 41, phường G, quận K, thành phố Đ. vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện đề ngày 08/12/2022, Bản tự khai, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị Bích Tín trình bày:

Bà có quen biết với bà Nguyễn Thị Ngọc H nên khi bà H nhờ bà giúp cho bà H vay 80.000.000đồng để giải quyết công việc thì bà có đồng ý và đưa tiền cho bà H nhưng không viết giấy vay. Sau đó khi bà cần tiền bà có đòi bà H nhiều lần nhưng bà H tìm đủ lý do để khất nợ và đến ngày 10/7/2022, bà H đã viết cho bà một tờ giấy với nội dung Giấy hẹn nợ lần cuối trong đó xác nhận nợ bà số tiền 80.000.000 đồng và cam kết trả vào ngày 10/8/2022. Ngoài ra bà H còn viết thêm nội dung đưa cho bà 80 cái bánh xe gòn (loại xe dùng cho lò gạch) và pho một tờ giấy chứng nhận QSD đất QSD đất số DC 080775 do Sở tài nguyên môi trường tỉnh Quảng Nam cấp ngày 20/12/2021 để làm tin và cam kết nếu không trả thì bà được xử lý 80 bánh xe gòn, nếu thiếu thì bà H bù thêm cho đủ số tiền vay. Đến hạn cam kết vào ngày 10/8/202, bà tìm bà H để đòi nợ thì không liên lạc được do bà H khóa thuê bao số điện thoại và chặn các liên lạc mạng. Ngoài việc liên lạc, bà có tìm đến nhà bà H thì được tổ trưởng và người dân báo bà H đã bán nhà và chuyển đi nơi khác. Do không tìm được bà H nên bà làm đơn khởi kiện bà H đến Tòa và đề nghị Tòa án đăng thông tin tìm kiếm bà H trên các phương tiện truyền thông đại chúng để giải quyết hồ sơ theo quy định.

Những yêu cầu bà đề nghị Tòa án giải quyết:

- Yêu cầu Tòa án xét xử buộc bà Nguyễn Thị Ngọc H trả cho bà số tiền vay 80.000.000đồng

- Về tiền lãi: Bà yêu cầu Tòa án tính lãi vay từ ngày bà H cam kết trả nợ vào ngày 10/8/2022 tính đến ngày 28/07/2023 là 11 tháng 18 ngày, bà làm tròn 11 tháng với mức lãi suất là 10% /năm, cụ thể:

80.000.000 x 0,83% x 11 tháng = 7.304.000đồng

- Về nội dung bà viết trong giấy hẹn nợ về việc đưa 80 bánh xe và bản pho giấy chứng nhận QSD đất để làm tin nhưng thực tế thì không có việc giao nhận 80 cái bánh xe và giấy tờ QSD đất là bản pho nên không có giá trị nên bà không đề nghị Tòa án xem xét về các tài sản bảo đảm khoản vay.

* Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát biểu:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án, đề nghị HĐXX: Căn cứ vào khoản 4 Điều 466 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Bích T đối với bà Nguyễn Thị Ngọc H về việc“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc H phải trả cho bà Lê Thị Bích T số tiền vay 80.000.000 đồng và tiền lãi 7.304.000 đồng.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu nghĩa vụ án phí trên giá trị nguyên đơn tranh chấp được Tòa án cháp nhận

Về chi phí tố tụng : Phí đăng thông tin tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú là 4.620.000 đồng (do bà Lê Thị Bích T đã nộp tạm ứng), chấp nhận yêu cầu của bà T đề nghị bà H hoàn trả số tiền chi phí đăng tin 4.620.000đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Bà Lê Thị Bích T khởi kiện bà Nguyễn Thị Ngọc H có địa chỉ tại tổ 82 cũ nay là tổ 41, phường Thạc Gián, quận Thanh Khê, TP. Đà Nẵng về việc "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản". Quá trình xác minh không xác nhận được thông tin cư trú thực tế của bà H do bà H đã đi khỏi đia phương. Tòa án tiến hành thủ tục đăng thông tin tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo yêu cầu của nguyên đơn để xử lý theo thủ tục chung. Do đó, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, TP. Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn trong quá trình tố tụng đã được bảo đảm đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự và có mặt tại phiên tòa xét xử.

Bị đơn vắng mặt lần thứ hai đã được Tòa án thông báo hợp lệ nên HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 277 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

Về nội dung vụ án:

Căn cứ chứng cứ nguyên đơn xuất trình xác nhận bà Nguyễn Thị Ngọc H có vay của bà Lê Thị Bích T khoản tiền 80.000.000 đồng được bà H viết và xác nhận tại "Giấy hẹn nợ lần cuối" vào ngày 07/8/2022. Ngoài ra, bà H đồng ý giao cho bà T 80 cái bánh xe gòn là tài sản cá nhân cho bà T vào ngày 8/8/2022 để đảm bảo khoản vay. Bà H cam kết trả hết toàn bộ số tiền vay 80.000.000đồng vào ngày 10/8/2022, nếu không trả được thì bà T có quyền thanh lý 80 cái bánh xe gòn để thu nợ, thiếu thì bà H bù vào đủ số tiền vay 80.000.000đồng trả cho bà T và xác nhận chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Đến thời hạn trả nợ, bà T liên lạc với bà H đòi nợ nhưng bà H bán nhà đi khỏi địa chỉ cư trú, khóa liên lạc nên bà T không đòi được tiền vì vậy bà T khởi kiện đến Tòa án để yêu cầu bà H trả cho bà các khoản sau:

- Yêu cầu Tòa án xét xử buộc bà Nguyễn Thị Ngọc H trả cho bà số tiền vay 80.000.000đồng

- Về tiền lãi: yêu cầu Tòa án tính lãi vay từ ngày bà H cam kết trả vào ngày 10/8/2022 đến ngày 28/07/2023 là 11 tháng 18 ngày nhưng làm tròn 11 thángvới mức lãi suất là 10% /năm, cụ thể:

80.000.000 x 0,83% x 11 tháng = 7.304.000đồng

- Về chi phí đăng thông tin tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú 4.620.00đ bà yêu cầu bà H hoàn trả lại cho bà. Số tiền này bà T đã nộp tạm ứng.

Xét yêu cầu của bà Lê Thị Bích T buộc bà H trả số tiền vay 80.000.0000đ. Căn cứ vào Giấy hẹn nợ gốc của bà H viết và ký xác nhận nên HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T buộc bà H trả cho bà T số tiền vay 80.000.000 đồng.

Xét yêu cầu của bà Lê Thị Bích T buộc bà H trả số tiền lãi vay 7.304.000 đồng: tại giấy nhận nợ ngày 07/8/2022, các bên không có thỏa thuận lãi vay, tuy nhiên đến ngày 10/8/2022, bên vay cam kết trả nhưng không trả nợ được do đó phải chịu nghĩa vụ lãi. Bà Lê Thị Bích T yêu cầu mức lãi suất 10%/năm và thời hạn tính lãi từ 10/8/2022 phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự nên HĐXX chấp nhận.

Xét nội dung bà H viết trong giấy hẹn nợ về việc giao 80 bánh xe gòn và giao thêm 01 bản pho giấy chứng nhận QSD đất số DC 080775 do Sở tài nguyên môi trường tỉnh Quảng Nam cấp ngày 20/12/2021 cho bà T để làm tin, không có công chứng thủ tục thế chấp tài sản và bà T không yêu cầu giải quyết về các tài sản bảo đảm khoản vay nên HĐXX không giải xem xét. Nếu có việc thế chấp và phát sinh quyền lợi của các bên sẽ giải quyết trong vụ án khác nếu có đơn khởi kiện.

Từ những phân tích trên, HDXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Bích T đối với bà Nguyễn Thị Ngọc H buộc bà H phải trả cho bà T tổng số tiền 87.304.000đồng. Trong đó: số tiền vay là 80.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh là 7.304.000đồng

Án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 4.365.200đồng.

- Hoàn trả bà Lê Thị Bích T số tiền tạm ứng án phí 2.200.000 đồng đã nộp tại biên lai thu số 0008695 ngày 30/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Khê, TP. Đà Nẵng.

Chi phí đăng thông tin tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú là 4.620.000 đồng (do bà Lê Thị Bích T đã nộp tạm ứng, đã chi theo các hóa đơn). HĐXX chấp nhận yêu cầu của bà T đề nghị bà H hoàn trả số tiền chi phí đăng tin 4.620.000đồng cho bà T.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện đòi tiền của bà Lê Thị Bích T đối với bà Nguyễn Thị Ngọc H về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản".

Tuyên xử:

1. Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc H phải trả cho bà Lê Thị Bích T tổng số tiền 87.304.000 đồng (tám mươi bảy triệu, ba trăm lẻ tư nghìn đồng). Trong đó: tiền vay là 80.000.000 đồng, tiền lãi là 7.304.000 đồng.

Kể từ thời điểm án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu mà người phải thi hành án không thi hành thì phải trả khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 4.365.200đồng (bốn triệu, ba trăm sáu mươi lăm nghìn, hai trăm đồng)

- Hoàn trả bà Lê Thị Bích T số tiền tạm ứng án phí 2.200.000 đồng (hai triệu, hai trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu số 0008695 ngày 30/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Khê, TP. Đà Nẵng.

3. Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc H trả cho bà Lê Thị Bích T chi phí đăng tin tìm kiếm số tiền 4.620.000đồng (bốn triệu, sáu trăm hai mươi nghìn đồng bà T nộp tạm ứng đã chi theo các hóa đơn).

4. Án xử công khai, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 28.7.2023; đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ