- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tín dụng"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2023/DS-ST Ngày: 27-9-2023 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Tiến
Bà Nguyễn Thị Thưởng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Hà - Thư ký Tòa án TP Thanh Hóa.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân TP Thanh Hóa tham gia phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Lý - Kiểm sát viên. Ngày 27 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 173/2023/ TLST- DS ngày 19 tháng 7 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” , theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 207/2023/QĐXX- ST ngày 06 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty T2 (JIVF)
Người đại diện theo pháp luật: Ông Taniguchi N - Chức vụ: Tổng giám đốc.
Địa chỉ: Lầu A Tòa nhà C, 7 N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: bà Nguyễn Thị H - Chức vụ: Trưởng bộ phận cấp cao Bộ phận Quản lý Công nợ (theo VB ủy quyền số 59/2022/UQ-JIVF ngày 06/12/2022 của Tổng giám đốc JIVF)
Người được ủy quyền lại: Ông Phạm Văn C - Nhân viên Quản lý công nợ JIVF ( theo VB ủy quyền số 123/2023/ UQ-LM-JIVF ngày 12/4/2023)
Địa chỉ: Phố Đ, phường Q, TP S, tỉnh Thanh Hóa
- Bị đơn: Anh Phạm Bá H1, sinh năm 1995 “vắng mặt” Địa chỉ: phố Q, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 27/12/2022, Công ty T2 JACCS (Công ty T2) và anh Phạm Bá H1 có ký hợp đồng tín dụng số 905900003641187000. Theo hợp đồng thì Công ty T2 cho anh H1 vay số tiền 30.000.000đ theo hình thức trả góp hàng tháng, lãi suất 52.2% năm. Sau khi ký hợp đồng, anh H1 đã nhận đủ số tiền theo hợp đồng đã ký. Theo thỏa thuận trong hợp đồng thì anh H1 có trách nhiệm thanh toán bao gồm gốc và lãi trong vòng 20 tháng, mỗi tháng anh H1 phải thanh toán cho Công ty T2 số tiền 2.288.405 đồng vào trước hoặc đúng ngày cuối hàng tháng cho đến khi kết thúc hợp đồng. Ngày thanh toán đầu tiên bắt đầu từ ngày 31/01/2023.
Ngày 10/02/2023, anh H1 đã thanh toán được cho Công ty T2 số tiền 2.295.000 đồng, sau đó thì không thanh toán mặc dù Công ty T2 đã nhiều lần yêu cầu anh phải trả nợ. Tính đến ngày 27/9/2023, anh H1 còn nợ số tiền nợ gốc là 29.138.990đ, lãi trong hạn là 9.972.110, lãi quán hạn là 605.125đ, phí quản lý khoản vay là 69.000đ, tổng gốc và lãi là 39.812.225 đồng. Nay Công ty T2 đề nghị Tòa án buộc anh H1 phải thanh toán toàn bộ khoản nợ gốc lãi 39.812.225đồng và tiền lãi phát sinh tiếp theo tính từ ngày 28/9/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụngđã ký kết.
Tại bản tự khai, bị đơn anh Phạm Bá H1 trình bày:
Về thời gian vay, số tiền vay và tiền nợ Công ty T2 trình bày anh thừa nhận là đúng. Sau khi vay, do anh bị tai nạn dẫn đến gặp khó khăn gặp khó khăn về kinh tế nên không trả nợ đúng hạn được cho Công ty T2. Nay Công ty T2 khởi kiện yêu cầu anh phải trả số tiền nợ gốc còn lại và lãi anh không có ý kiến gì. Số tiền nợ trên anh xin được trả nợ dần đối với số tiền gốc và xin Công ty miễn số tiền lãi cho anh.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày, không có bổ sung, thay dổi gì. Anh H1 vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử , Thư ký cũng như của nguyên đơn kể từ khi Tòa án thụ lý cho đến trước thời điểm nghị án đã tuân theo đúng qui đinh của pháp luật. Đối vói bị đơn anh Phạm Bá H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự giải quyết vắng mặt anh là đúng quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 4; khoản 2 Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
VÒ tè tông: Đây là vụ án dân sự tranh chấp về hợp đồng tín dụng, bị đơn cư trú tại thành phố thanh H nên Tòa án thành phố T thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ 2 đối với anh H1 để tham gia phiên tòa nhưng anh vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết vắng mặt anh là đúng quy định.
Về nội dung:
Hợp đồng tín dụng số 905900003641187000 ký ngày 27/12/2022 giữa Công ty T2 và anh Phạm Bá H1 đã được các bên ký kết có nội dung, điều khoản thỏa thuận trong hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên hợp pháp.
Mặc dù, trong hợp đồng tín dụng thỏa thuận mức lãi suất của Công ty T2 với anh Phạm Bá H1 là 52,2%/năm cao hơn mức lãi suất quy định của Bộ luật Dân sự. Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng và Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao quy định thì tổ chức tín dụng và khách hành có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật. Do đó, mức lãi suất của Hợp đồng tín dụng giữa Công ty T2 JACCS và anh Phạm Bá H1 được thực hiện theo thỏa thuận mà không áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật Dân sự để xác định lãi, lãi suất.
Sau khi ký kết, Công ty T2 đã chuyển đủ số tiền vay 30.000.000đ cho anh H1. Quá trình thực hiện hợp đồng anh H1 mới thanh toán được cho Công ty tài chính JACCS 01 tháng tiền gốc và lãi, sau đó đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó, yêu cầu của Công ty T2 buộc anh H1 phải thanh toán số tiền nợ tính đến ngày 27/9/2023 gồm: tiền gốc 29.138.990đ; tiền lãi trong hạn 9.972.110đ, lãi quá hạn 605.125đ, phí quản lý khoản vay 96.000đ. Tổng là 39.812.225đ và tiền lãi phát sinh tiếp theo kể từ ngày 28/9/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ là phù hợp nên được chấp nhận.
VÒ ¸n phÝ: Anh Phạm Bá H1 phải chịu án phí dân sự s¬ thÈm được làm tròn số 1.991.000 (làm tròn số), căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Công ty T2 JACCS không phải chịu án phí và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 2 Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao. Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án
Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của Công ty T2 JACCS
Buộc anh Phạm Bá H1 phải trả cho Công ty T2 JACCS số tiền nợ tính đến ngày 27/9/2023 là 39.812.225đ (trong đó: tiền gốc 29.138.990đ; tiền lãi trong hạn 9.972.110đ, lãi quá hạn 605.125đ, phí quản lý khoản vay 96.000đ).
Anh H1 tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh tiếp theo kể từ ngày 28/9/2023 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 905900003641187000 ngày 27/12/2023 đã được ký kết giữa các bên.
VÒ ¸n phÝ: Anh Phạm Bá H1 phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm được làm tròn số là 1.991.000.
Công ty T2 JACCS được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 883.000đ theo biên lai thu số AA/2021/00003220 ngày 18/7/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Công ty T2 JACCS có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh H1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án. /.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TP Thanh Hóa; - Chi cục T; - Lưu hồ sơ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị T |