vanban.org

Bản án 43/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 09/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tạm giam bị cáo: Đậu Quyền Quý, sinh ngày 15/10/1994 tại: xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn Đông Cảng, xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 7/12;

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt..........(...................................) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 08/6/2020). Về tội “Tàng trử trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Thời hạn tạm giam là 45 (Bốn mươi lăm) ngà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Hùng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tạm giam bị cáo: Đậu Quyền Quý, sinh ngày 15/10/1994 tại: xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn Đông Cảng, xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 7/12;
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BA ĐỒN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2022/HS-ST
Ngày 09 - 9 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Đức

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Vĩnh Quý và Ông Mai Văn Chương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình; Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2022/TLST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo:

Trần Văn H, giới tính: Nam, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1983 tại thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình; nơi đăng ký thường trú: tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; chổ ở hiện nay: Khóm H, thị trấn H, huyện V, tỉnh Quảng Trị; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: lớp 09/12; nghề nghiệp: lái xe; con ông Trần Văn Đ, sinh năm 1964 và bà Trần Thị L, sinh năm 1961; vợ: Lê Thị Mai L, sinh năm 1985; con: 01 đứa, 13 tuổi; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: ngày 14/3/2014, bị Công an huyện Quảng Trạch xử phạt hành chính về hành vi “Đánh nhau”, bằng hình thức phạt tiền, với số tiền 500.000 đồng, nộp phạt vào ngày 21/3/2014; ngày 18/11/2019, bị Công an thị xã Ba Đồn xử phạt hành chính về hành vi “Sử D trái phép chất ma túy”, bằng hình thức phạt tiền, với số tiền 750.000 đồng, nộp phạt vào ngày 23/12/2019.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình từ ngày 10/3/2022. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1966; nơi cư trú: tổ dân phố D, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 10/3/2022, Trần Văn H điều khiển xe ô tô tải BKS 73C - 093.83 đi từ huyện V, tỉnh Quảng Trị đến phường Q, thị xã B để gặp bạn bè và ăn nhậu tại một quán thuộc tổ dân phố T, phường Q, thị xã B. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, ăn nhậu xong thì H một mình lên xe ô tô, khi H vừa ngồi vào ghế lái xe thì lực lượng Công an thị xã Ba Đồn thấy H có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Công an thị xã Ba Đồn phát hiện trên xe ô tô có 01 (một) túi nilon màu xanh, bên trong chứa 92 (chín mươi hai) viên ma túy tổng hợp dạng hồng phiến để ở trong túi áo sơ mi vắt trên ghế phụ và 01 (một) gói giấy màu bạc, bên trong chứa 09 (chín) viên ma túy tổng hợp dạng hồng phiến để ở trong giỏ đựng đồ đặt giữa khoang lái. Công an thị xã Ba Đồn tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Văn H, thu giữ, niêm phong số ma túy trên cùng một số tang vật liên quan. Quá trình điều tra, H khai nhận toàn bộ 101 viên ma túy dạng hồng phiến bị bắt giữ trên có nguồn gốc là vào tháng 01/2022, H mua tại cửa khẩu Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị từ một nam thanh niên không quen biết với giá 2.000.000 đồng, cất giấu trên xe ô tô, mục đích để sử D.

Tại bản kết luận giám định số 355/KL-KTHS ngày 14/3/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: 101 (một trăm linh một) viên nén hình tròn, màu hồng được thu giữ của Trần Văn H lúc bị bắt quả tang là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 10,888g (mười phẩy tám trăm tám mươi tám gam). Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự 323, danh mục II, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ba Đồn đã thu giữ 101 viên nén hình tròn, màu hồng dạng thuốc tân dược. Sau giám định đã được niêm phong bằng phong bì thư dán kín số 355/KL-KTHS ngày 14/3/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, bên trong chứa 10,526g chất ma túy Methamphetamine, kèm theo vỏ bao gói; 01 xe ô tô tải nhãn hiệu DONGFENG, biển kiểm soát 73C-09383, màu vàng, số máy: 303387655614, số khung: C356C3807568, đã qua sử D. Quá trình điều tra, xác định xe ô tô trên là của Công ty TNHH D, thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Văn D, không liên quan đến tội phạm; ngày 01/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ba Đồn đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 22/QĐ-CSĐT, trả lại xe ô tô cho chủ sở hữu.

Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có lý do, dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Người này đã có lời khai tại hồ sơ vụ án, xét việc vắng mặt họ không ảnh hưởng khách quan đến kết quả giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt.

Liên quan trong vụ án có nam thanh niên đã bán ma túy cho H tại khu vực Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, do không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra tiếp tục lập hồ sơ theo dõi, khi nào có kết quả thì xử lý sau.

Tại Cáo trạng số 36/CT - VKSBĐ ngày 01 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

+ Áp D điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Trần Văn H từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng đến 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt giữ, tạm tạm giam 10/3/2022.

+ Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

+ Về xử lý vật chứng: Áp D điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, để tịch thu tiêu hủy 10,526 gam ma túy còn lại sau khi giám định, kèm theo võ bao gói.

+ Tuyên bị cáo phải chịu án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhất trí với toàn bộ nội dung Cáo trạng và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn đã truy tố đối với bị cáo, không tranh luận gì.

- Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con cái.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong tài liệu, đồ vật bị tạm giữ, Kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã được làm rõ tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận: vào lúc 13 giờ, ngày 10 tháng 3 năm 2022, tại tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, Trần Văn H có hành vi tàng trữ ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 10,888 gam, mục đích để sử D thì bị lực lượng Công an thị xã Ba Đồn phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp “Tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Methaphetamine, khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng số 36/CT-VKSBĐ ngày 01/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện thấy: bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của cáo bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy. Ngoài ra còn trực tiếp đe doạ nghiêm trọng đến sức khỏe và sự phát triển của bản thân, gây thiệt hại về kinh tế cho gia đình, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự và an toàn xã hội.

Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; được Ủy ban nhân dân thị trấn Hồ Xá, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị xác nhận thành tích cứu cháu Trần Quốc Ph, sinh ngày 29/3/2014 thoát khỏi đuối nước, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra gia đình bị cáo còn cung cấp Giấy chứng nhận hộ Ông (Bà) Trần Văn Đ (bố mẹ bị cáo) thuộc diện hộ nghèo, được chính quyền địa phương xác nhận; Đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, con bị cáo chết nên bị cáo bị khủng hoảng tinh thần, dẫn đến phạm tội, được chính quyền địa phương xác nhận.

Bị cáo có nhân thân xấu.

Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung, như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên theo tài liệu có trong hồ sơ, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn, bị cáo hiện đang bị tạm giam, không có khả năng thi hành án; cần chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên Tòa để miễn chấp hành hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe ô tô tải nhãn hiệu DONGFENG, biển kiểm soát 73C-09383, màu vàng, số máy: 303387655614, số khung: C356C3807568, đã qua sử D. Quá trình điều tra, xác định không liên quan đến tội phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ba Đồn đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 22/QĐ-CSĐT, trả lại 01 xe ô tô tải cho chủ sở hữu là đúng quy định, phù hợp pháp luật nên không xem xét gì thêm.

Đối với 10,526 gam chất ma túy, loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định kèm theo võ bao gói là chất cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Hành vi có liên quan trong vụ án: Trong vụ án có nam thanh niên đã bán ma túy cho H tại khu vực Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, do không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể nên chưa có căn cứ xử lý.

Về án phí: bị cáo Trần Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;

Điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 329; các khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự;

Khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử D án phí, lệ phí Toà án”.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn H 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm tạm giam 10/3/2022.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Văn H với thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/9/2022) để đảm bảo thi hành án, theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.

3. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần văn H.

4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 10,526 gam chất ma túy, loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định kèm theo võ bao gói.

(Các vật chứng có đặc điểm mô tả như trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/8/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã Ba Đồn và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn).

5. Về án phí: Xử buộc bị cáo Trần Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 09/9/2022; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Quảng Bình;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND tỉnh Quảng Bình;

- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;

- VKSND thị xã Ba Đồn;

(Đã ký)

- Công an thị xã Ba Đồn;

- Chi cục THADS thị xã Ba Đồn;

- Cơ quan THAHS Công an tx Ba Đồn;

Phan Anh Đức

- Bị cáo; những người tham gia tố tụng;

- Lưu HSVA;

- THA hình sự.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Xuân Hòa Phan Thanh Bảo

Phan Anh Đức TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THỊ XÃ BA ĐỒN

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH QUẢNG BÌNH

Ba Đồn, ngày....... tháng.......năm 2020

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi.........giờ.........phút, ngày........tháng.........năm 2020, Tại phòng

nghị án Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông...............................................................

- Các Hội thẩm nhân dân:........................................................................... .................................................................................................................................. ...

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số............../2020/HSST ngày ...../........./2020, đối với bị cáo Đậu Quyền Quý.

Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1. Về tội danh: bị cáo Đậu Quyền Quý phạm tội “Tàng trử trái phép chất ma tuý”.

Kết

quả

biểu quyết:..........................................................................................

2. Về điều luật áp D:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử D án phí, lệ phí Tòa án.

Kết quả biểu quyết:........................................................................................

3.Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Đậu Quyền Quý....................(...................................) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 08/6/2020.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Đậu Quyền Quý với thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/9/2020) để đảm bảo thi hành án, theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.

Kết quả biểu quyết:........................................................................................

4. Về hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đậu Quyền Quý.

Kết quả biểu quyết:........................................................................................

5. Về các vấn đề khác:

- Về xử lý vật chứng: Xử tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Fasol và 01 phong bì thư của Phòng KTHS Công an tỉnh Quảng Bình, số: 929/GĐ - PC09, bên ngoài ghi “Mẫu ký hiệu A”, bên trong chứa 0,248g (Không phẩy hai trăm bốn mươi tám gam) chất ma túy Heroine sau giám định, kèm theo vỏ bao gói, đã được niêm phong bằng chữ ký của những người tham gia niêm phong và dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình. (Vật chứng có đặc điểm mô tả như trong Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã Ba Đồn và Chi cục Thi hành án thị xã Ba Đồn vào ngày 16/9/2020.

- Về án phí: Xử buộc bị cáo Đậu Quyền Quý phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

- Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Kết quả biểu quyết:.......................................................................................

Việc nghị án kết thúc vào hồi..........giờ.............phút cùng ngày.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN

THẨM PHÁN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THỊ XÃ BA ĐỒN

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH QUẢNG BÌNH Số...../2020/HSST-QDTG

Ba Đồn, ngày....... tháng.......năm 2020

QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phan Anh Đức

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông:................................................................................................................ ...

Bà:.................................................................................................................. ..

Căn cứ vào các điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào Biên bản nghị án ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;

Xét thấy: Cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án,

QUYẾT ĐỊNH

1.Tạm giam bị cáo: Đậu Quyền Quý, sinh ngày 15/10/1994 tại: xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn Đông Cảng, xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 7/12;

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt..........(...................................) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 08/6/2020). Về tội “Tàng trử trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Thời hạn tạm giam là 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 30/9/2020.

2. Công an thị xã Ba Đồn có trách nhiệm thi hành quyết định này.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ