vanban.org

Bản án 43/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lai Châu, tỉnh Lai Châu Tuyên án 23/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/02/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TAND THÀNH PHỐ L
TỈNH L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2022/HS-ST
Ngày 23 - 6 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L – L

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Tòng Thị Tuyết

Các hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Liên

Ông Lý Chí Sung

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Lệ Quyên - Thư ký Toà án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Khánh, Kiểm sát viên.

Ngày 23/6/2022 tại chợ San Th thuộc xã San Th, thành phố L, tỉnh L. Tòa án nhân dân thành phố L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2022/HSST ngày 13 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn Đ; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1974 tại tỉnh Nam Đ. Nơi ĐKHKTT: Xóm 11, xã Giao H, huyện Giao T, tỉnh Nam Đ; Chỗ ở trước khi bị bắt: Tổ 3, phường Đoàn K, thành phố L, tỉnh L; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình Đ văn hoá(học vấn): 08/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông: Lê Văn S, sinh năm 1944; Con bà: Phan Thị T, sinh năm 1948; Có vợ là: Nguyễn Thị G, sinh năm 1978 và có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2005; Anh chị em ruột có 05 người, bị cáo là con thứ hai; Tiền sự: Không; Tiền án: có 01 tiền án, tại bản án số 25/2019/HS-ST ngày 24/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố L đã xử phạt Lê Văn Đ 15 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngày 26/10/2020 bị cáo chấp hành xong hình phạt và các quyết định khác của bản án, tính đến thời điểm phạm tội bị cáo chưa được xóa án tích. Về nhân thân: Ngày 30/9/2014 bị Tòa án nhân dân thành phố L xử phạt 24 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999. Tính đến lần phạm tội này bị cáo đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/02/2022 đến ngày 17/02/2022 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L cho đến nay. (Có mặt ).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Hồi 18 giờ 15 phút, ngày 08/02/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L phối hợp cùng Công an phường Quyết T làm nhiệm vụ tại khu vực bản Séo L1, phường Quyết T, thành phố L, tỉnh L thì phát hiện Lê Văn Đ đang đi bộ trên vỉa hè đường 10/10 có biểu hiện nghi vấn. Qua yêu cầu kiểm tra Lê Văn Đ tự giác lấy trong túi quần hậu bên phải đang mặc ra một chiếc ví da màu nâu bên trong ví có 01 gói được gói bên ngoài bằng mảnh giấy màu trắng có in số và chữ bên trong chứa chất bột màu trắng giao nộp cho cơ quan điều tra. Theo Đ khai nhận đó là ma túy, loại Heroine, Đ tàng trữ để sử dụng.

Tại cơ quan điều tra, Lê Văn Đ khai nhận: Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là do vào khoảng 17 giờ, ngày 08/02/2022, Lê Văn Đ mua được của Lê Thanh B, sinh năm 1969. Trú tại: Tổ 23, phường Đông P, thành phố L, tỉnh L với giá 100.000 đồng ở tại vỉa hè khu vực đối diện Bến xe khách tỉnh L. Sau khi mua được số Heroine trên Đ cất vào trong ví da màu nâu rồi cho ví vào túi quần hậu bên phải đang mặc rồi đi về nhà. Trên đường đi đến khu vực đường 10/10 thuộc bản Séo L, phường Quyết T, thành phố L, tỉnh L, Đ đi tìm chỗ sử dụng thì bị cơ quan điều tra phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Mở rộng điều tra, Lê Thanh B không thừa nhận ngày 08/02/2022 bán ma túy cho Lê Văn Đ.

K luận giám định số: 06/KLGĐ ngày 09/02/2022 của người giám định tư pháp theo vụ việc K luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Lê Văn Đ trong quá trình bắt quả tang ngày 08/02/2022 có khối lượng là 0,25 gam.

K luận giám định số: 184/GĐ-KTHS ngày 10/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L kết luận: 01 (một) mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma tuý, loại Heroine (không hoàn lại mẫu vật gửi giám định).

Cáo trạng số: 22/CT-VKSTP ngày 13/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L đã truy tố Lê Văn Đ về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ từ 16 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/02/2022. Áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ một gói niêm phong bằng phong bì công văn của Công an thành phố L (Theo hồ sơ bên trong là vật chứng còn lại sau khi lấy mẫu gửi giám định thu giữ của Lê Văn Đ trong quá trình bắt quả tang ngày 08/02/2022); 01 chiếc ví da màu nâu, trên ví có in chữ và số “H2 LEATHER”.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các quyết định nêu trên.

Tại lời nói sau cùng bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của bản thân và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật để được sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tính chất mức Đ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng, K luận giám định … được xem xét và tranh tụng công khai tại phiên toà. Vì vậy có đủ cơ sở để khẳng định: Hồi 18 giờ 15 phút, ngày 08/02/2022, tại khu vực đường 10/10 thuộc bản Séo L, phường Quyết T, thành phố L, tỉnh L Lê Văn Đ đã tàng trữ 0,25 gam Heroine để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Bị cáo Lê Văn Đ là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách Đc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi của bị cáo Lê Văn Đ có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, không oan sai, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân của bị cáo: Ngày 30/9/2009 bị Tòa án nhân dân thành phố L xử phạt 24 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999. Tính đến lần phạm tội này bị cáo đã được xóa án tích.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: tại bản án số 25/2019/HS-ST ngày 24/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố L đã xử phạt Lê Văn Đ 15 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngày 26/10/2020 bị cáo chấp hành xong hình phạt và các quyết định khác của bản án. Đến ngày phạm tội bị cáo chưa được xóa án tích là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có bố được Chủ tịch nước tặng Huân chương chiến sỹ giải phóng. Đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức Đ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có cơ hội cai nghiện, răn đe, giáo dục bị cáo, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao Đng tự do, không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng, điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với 0,25 gam Heroine Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ đi giám định, sau giám định không hoàn lại mẫu vật nên không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

Đối với 01 phong bì niêm phong là phong bì công văn do Công an thành phố L phát hành (Theo hồ sơ bên trong là vật chứng còn lại sau khi lấy mẫu gửi giám định thu giữ của Lê Văn Đ trong quá trình bắt quả tang ngày 08/02/2022); 01 chiếc ví da màu nâu, trên ví có in chữ và số “H2 LEATHER” đều là công cụ phạm tội và vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra, theo lời khai của Lê Văn Đ, nguồn gốc số ma túy mà bị cáo bị thu giữ là do mua của Lê Thanh B. Kết quả điều tra, Lê Thanh B không thừa nhận, ngoài lời khai của Đ không có tài liệu, chứng cứ khác. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét, giải quyết trong vụ án này.

Quan điểm của kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ 18 (mười tám) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 08/02/2022.

3. Về vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong là phong bì công văn do Công an thành phố L phát hành (Theo hồ sơ bên trong là vật chứng còn lại sau khi lấy mẫu gửi giám định thu giữ của Lê Văn Đ trong quá trình bắt quả tang ngày 08/02/2022); 01 chiếc ví da màu nâu, trên ví có in chữ và số “H2 LEATHER”

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố L và Chi cục thi hành án dân sự thành phố L).

4. Về án phí: Bị cáo Lê Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân cấp trên.

Cỡ chữ