vanban.org

Bản án 43/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 29/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Quốc C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Lê Quốc C – 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 05/9/2022. Xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "“Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Quốc C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BÌNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2022/HS-ST
Ngày 29 tháng 11 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Phước Tự.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông: Ngô Văn Khon.

2/ Ông: Phan Thanh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Thanh Phong - Thư ký tòa án nhân dân huyện Thanh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Chiến - Kiểm sát viên.

Hôm nay ngày 29 tháng 11 năm 2022 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình (điểm cầu Trung tâm) và nhà tạm giữ Công an huyện Thanh Bình (điểm cầu thành phần) tiến hành xét xử phiên tòa trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Quốc C (tên gọi khác: không), sinh ngày 10/02/2003, tại: tỉnh Đồng Tháp; Nơi ĐKHKTT: Tổ 3, ấp 1, xã 2, huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang; Chổ ở hiện nay: ấp 1 xã 2, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Hoàng T, sinh năm: 1979 và bà Châu Ngọc B, sinh năm: 1983; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con đầu lòng; vợ, con: chưa có; tiền sự: không; tiền án: không; Nhân Thân: Ngày 16 tháng 03 năm 2021 bị Công an thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xử phạt 2.500.000đ về hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác đã nộp phạt ngày 17/3/2021; tạm giữ: không; tạm giam: 05/9/2022, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, có mặt tại điểm cầu thành phần.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Lê Hoàng T, sinh năm 1979. Địa chỉ: ấp 1, xã 2, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp. Có mặt tại điểm cầu trung tâm.

- Người làm chứng:

1. Trần Ngọc Tỳ E, sinh năm: 1996, có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Nguyễn Kim T, sinh năm 1987, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

1. Phan Văn P - Thư ký Tòa án, hỗ trợ phiên tòa trực tuyến tại điểm cầu thành phần.

2. Lê Minh H - Cán bộ Nhà tạm giữ, hỗ trợ phiên tòa trực tuyến tại điểm cầu thành phần.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Quốc C là người nghiện ma túy, tối ngày 09/8/2022 C một mình điều khiển xe mô tô của ông Lê Hoàng T (cha ruột bị cáo) đến ngã tư Quốc lộ 30 giáp Đường 00 thuộc khóm 1, thị trấn 2, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp gặp một người thanh niên lạ, C hỏi mua ma túy với giá là 200.000đ được người thanh niên đồng ý bán và giao cho C một đoạn ống hút hàn kín 02 đầu bên trong có chứa ma túy, rồi nhận của C 200.000đ, khi có ma túy C đi đến đoạn đường vắng lấy ra 01 ít ma túy sử dụng, phần ma túy còn lại C bỏ vào túi quần để giành sử dụng cho các lần sau. Đến tối ngày 11/8/2022 C đi uống rượu với những người bạn trong đó có Trần Ngọc T, khi tàn tiệc rượu là khoảng 22 giờ, C nhờ T chở đi tìm nhà trọ để ngủ. Cụ thể T đã điều khiển xe mô tô biển số 66F1-377.42 loại Sirius chở C đến thuê phòng số 6 nhà trọ 1, thuộc khóm 1, thị trấn 2, huyện Thanh Bình, tại đây T và C ngồi nói chuyện qua lại sau đó T ra về, lúc này C lấy ra tép ma túy để sẳn trong túi quần và bộ dụng cụ để chuẩn bị hút, liền lúc đó Công an đến kiểm tra phòng trọ, thì C đã cất giấu tép ma túy dưới ti vi đặt tại vách ngăn nhà vệ sinh, bộ dụng cụ thì C bỏ vào thùng rác trong phòng, qua kiểm tra phòng số 06 thì cơ quan Công an đã thu giữ 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng-xanh được hàn kín 02 đầu bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là chất ma túy; 01 nỏ thủy tinh màu trắng, được gắn với nắp nhựa màu trắng; 01 hột quẹt ga màu xanh; 02 ống hút nhựa (01 trắng, 01 đen) và thu trên người của C là 700.000đ.

Quá trình Điều tra C khai nhận số ma túy bị thu giữ tại hiện trường là của C mua của người thanh niên lạ nhằm mục đích sử dụng, Trần Ngọc T không biết và cũng không tham gia sử dụng.

Kết quả giám định số 694/KL-KTHS ngày 13/8/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận: Tinh thể rắn, chứa trong 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng-xanh được hàn kín 02 đầu, được niêm phong trong phong bì thu giữ của Lê Quốc C là chất ma túy, có khối lượng 0,124 gam, loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 47/CT-VKSTB ngày 08 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình đã truy tố bị cáo Lê Quốc C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Tại phiên tòa Viện kiểm sát xác định cáo trạng truy tố bị cáo C là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên giữ y quyết định truy tố. Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ, hậu quả tác hại do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nguyên nhân điều kiện dẫn đến phạm tội và nhân thân của bị cáo. Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Quốc C từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; Về hình phạt bổ sung đề nghị không áp dụng đối với bị cáo; Về vật chứng thu giữ đề nghị xử lý theo Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS.

Trong phần tranh luận bị cáo thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát nên không tranh luận với kiểm sát viên.

Nói lời sau cùng bị cáo Lê Quốc C đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để sớm về hòa nhập cộng đồng, làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện, Thanh Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục quy địnhcủa bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Bị cáo Lê Quốc C thừa nhận, do nghiện ma túy nên đã mua 01 bịt ma túy với giá 200.000đ về tàng trữ sử dụng, sau khi đã sử dụng hết 01 ít trong tép ma túy, thì bị cáo hàn kín lại bỏ vào túi quần cho đến 02 ngày sau thì bị cáo lấy ra sử dụng tại phòng số 06 nhà trọ 1, thuộc khóm 1, thị trấn 2, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp thì bị Công an huyện đến kiểm tra bắt quả tang lúc 22 giờ 10 phút ngày 11/8/2022, vật chứng thu giữ tại hiện trường là ma túy, cùng bộ dụng cụ sử dụng ma túy trước sự chứng kiến của Trần Ngọc T, kết quả giám định đã kết luận ma túy thu giử của Lê Quốc C là loại Methamphetamine có khối lượng 0,124 gam. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Khi thực hiện hành vi bị cáo nhận thức được việc tàng trữ ma túy để sử dụng là phạm tội, nhưng vẫn cố ý thực hiện, cho nên, hành vi của bị cáo Lê Quốc C đã có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” phạm vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS có quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)……….

b)………

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA, hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1gamđến dưới 05 gam;

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, xã hội lên án. Chúng ta biết ma túy là chất gây nghiện, đặc biệt người nghiện ma túy đá sẽ phát sinh ảo giác có thể giết người, là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác, đồng thời đây là chất kích thích do Nhà nước thống nhất độc quyền quản lý, nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép, thế nhưng bất chấp tất cả bị cáo Lê Quốc C đã tàng trữ để sử dụng, cho nên việc đưa bị cáo ra xét xử như ngày hôm nay là cần thiết thể hiện sự nghiêm minh của luật pháp đồng thời mang tính giáo dục phòng ngừa chung trong xã hội. Cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân tốt về sau này.

Tuy nhiên, quá trình xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, cho nên Hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Qua các tài liệu thu thập có trong hồ sơ và lời trình bày của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Xét quan điểm đề xuất của Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với phân tích nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ gồm: Số ma túy sau giám định là 0,086 gam được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1; 01 nỏ thủy tinh màu trắng, được gắn với nắp nhựa màu trắng; 01 hột quẹt gas màu xanh trắng; 02 ống hút nhựa (01 trắng, 01 đen).

Đây là vật chứng có liên quan đến việc phạm tội, là hàng cấm nên tịch thu tiêu hủy theo khoản 1 Điều 47 BLHS. Đối với các tài sản khác đã Cơ quan điều tra đã xử lý theo đúng pháp luật nên không xem xét lại.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Quốc C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Nghị Quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Lê Quốc C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Xử phạt Lê Quốc C – 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 05/9/2022.

2. Xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy sau giám định là 0,086 gam được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1; 01 nỏ thủy tinh màu trắng, được gắn với nắp nhựa màu trắng; 01 hột quẹt gas màu xanh trắng; 02 ống hút nhựa (01 trắng, 01 đen).

(Các tài sản trên hiện đang do Chi cục thi hành án Dân sự huyện Thanh Bình đang quản lý)

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Quốc C phải chịu án phí sơ thẩm hình sự là 200.000đ.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án (29/11/2022)

Cỡ chữ