vanban.org

Bản án 43/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu Tuyên án 16/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo: Vàng Văn K và Vàng Văn Ng phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vàng Văn K 20 (hai mươi) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HSST - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo: Vàng Văn K và Vàng Văn Ng phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THAN UYÊN
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2022/HS-ST
Ngày: 16/5/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Mỹ Hằng.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Xuân Thủy – Ông Tòng Văn Đại

- Thư ký phiên toà: Bà Lã Thu Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên toà: Ông Tòng Văn Thức - Kiểm sát viên

Ngày 16/5/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2022/TLST-HS, ngày 21/4/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2022/QĐXXST-HS ngày 04/5/2022 đối với các bị cáo:

1. Vàng Văn K - Sinh ngày 28/10/1998

Nơi ĐKHKTT: Bản M, xã C, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vàng Văn Q – Sinh năm: 1967 (đã chết) và bà: Lù Thị Đ – Sinh năm: 1968; Bị cáo chung sống với chị Hoàng Thị Ph– Sinh năm: 1999 như vợ chồng chưa có đăng ký kết hôn theo phong tục tại địa phương và có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ hồi 17 giờ 35 phút ngày 05/01/2022, tạm giam ngày 12/01/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu. (Có mặt).

2. Vàng Văn Ng - Sinh ngày 09/11/1992

Nơi ĐKHKTT: Bản M, xã C, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vàng Văn Đ (Đã chết) và bà: Lù Thị Đ – Sinh năm: 1965; Bị cáo có vợ: Tòng Thị E – Sinh năm 1993 và 02 con: con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ hồi 17 giờ 35 phút ngày 05/01/2022, tạm giam ngày 12/01/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu. (Có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Tòng Thị E – sinh năm: 1993; trú tại: Bản M, xã C, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ ngày 05/01/2022, tại bản M, xã C, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, Vàng Văn K rủ Vàng Văn Ng lên bản N, xã P đi tìm mua Heroine cùng nhau sử dụng, Ng đồng ý rồi lấy xe mô tô chở K lên bản N, xã P. Khi đến bản Noong Thăng, K và Ng mỗi người góp 100.000 đồng được tổng số tiền 200.000 đồng. Sau đó, K cầm số tiền 200.000 đồng đi tìm mua Heroine còn Ng đứng đợi. K đi vào trong bản Noong Thăng gặp một người phụ nữ không rõ lai lịch, qua nói chuyện, K mua của người phụ nữ đó 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Mua được Heroine, K quay lại chỗ Ng đang đợi rồi cùng nhau đi vào bụi cây ven đường trong bản Noong Thăng cấu một ít Heroine trong gói Heroine cùng nhau sử dụng. Số Heroine còn lại, K cầm trong lòng bàn tay trái rồi ngồi sau xe mô tô do Ng điều khiển mang Heroine về nhà.

Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi Ng chở K đến khu 10, thị trấn Than Uyên thì gặp tổ công tác Công an thị trấn Than Uyên đang làm nhiệm vụ. Do sợ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình bị phát hiện, Vàng Văn K đã thả gói Heroine xuống đất thì bị Công an thị trấn Than Uyên phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu trắng có khối lượng 0,32 gam.

Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn tạm giữ của Vàng Văn Ng 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, mang biển kiểm soát 25B1-822.40.

Ngày 05/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên đã tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu chất bột, màu trắng thi giữ của Vàng Văn K, Vàng Văn Ng gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định tư pháp số 17/KLGĐ ngày 05/01/2022 của người giám định theo vụ việc kết luận: số chất bột, màu trắng thu giữ của Vàng Văn K, Vàng Văn Ng có khối lượng: 0,32 gam.

Tại bản kết luận giám định số: 101/GĐ-KTHS ngày 09/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: “01 (một) mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của Vàng Văn K, Vàng Văn Ng gửi giám định là ma túy; loại Heroine”.

Đối với chiếc xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, mang biển kiểm soát 25B1-822.40 tạm giữ khi bắt quả tang Vàng Văn Ng. Quá trình điều tra xác định chiếc xe là tài sản chung của gia đình bị cáo Vàng Văn Ng, ngày 18/01/2022, Cơ quan điều tra Công an huyện Than Uyên đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe nói trên cho chị Tòng Thị E (là vợ của bị cáo Ng).

Vật chứng còn lại của vụ án: 0,24 gam Heroine, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu tạm giữ của Vàng Văn K, Vàng Văn Ng . Hiện số vật chứng trên đang được lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên.

Bản cáo trạng số: 39/CT-VKS ngày 20/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đã truy tố các bị cáo Vàng Văn K và Vàng Văn Ng về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo theo nội dung bản cáo trạng, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Vàng Văn K và Vàng Văn Ng phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 - Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Vàng Văn K từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Xử phạt bị cáo Vàng Văn Ng từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của các bị cáo tính từ ngày các bị cáo bị tạm giữ hồi 17 giờ 35 phút ngày 05/01/2022.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 - Bộ luật hình sự 2015 đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm: 0,24 gam Heroine là vật cấm tàng trữ; 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu là vật không còn giá trị sử dụng.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo không bổ sung ý kiến gì thêm, nhất trí và không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để sớm trở về với gia đình và cộng đồng xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang khi các bị cáo thực hiện tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình thu giữ, niêm phong, bảo quản giao nhận vật chứng có sự chứng kiến của các bị cáo và giám định đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, đảm bảo khách quan, trung thực và có cơ sở khoa học, phù hợp với bản Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 05/01/2022, tại khu 10, thị trấn Than Uyên, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, các bị cáo Vàng Văn K và Vàng Văn Ng có hành vi tàng trữ trái phép 0,32 gam Heroine với mục đích để sử dụng thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của các bị cáo K và Ng đã cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Vàng Văn K và Vàng Văn Ng về tội danh, cũng như điều luật là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, nó không những xâm hại trực tiếp đến sức khỏe về tinh thần thể chất và tài sản của người sử dụng gây lo lắng buồn phiền cho những người thân trong gia đình mà còn là nguyên nhân làm lan truyền bệnh tật và các tệ nạn xã hội khác, do đó, cần phải xử lý nghiêm minh.

Xét tính chất đồng phạm và vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy: các bị cáo cùng cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhưng không có sự bàn bạc thống nhất, câu kết chặt chẽ từ trước nên chỉ mang tính đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo K là người khởi xướng và trực tiếp cầm giữ ma túy với mục đích để cả hai bị cáo sử dụng khi bị bắt quả tang; bị cáo Ng cung cấp phương tiện để đi mua ma túy. Do đó, các bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của mình.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, cần xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51- Bộ luật hình sự 2015.

Ý kiến luận tội của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều, khoản truy tố, mức hình phạt và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo là có căn cứ, phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Xét về nhân thân các bị cáo thì thấy rằng: mặc dù chưa có tiền án, tiền sự, là những thanh niên tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, với lối sống buông thả, ăn chơi, đua đòi rồi mắc vào tệ nạn ma túy. Các bị cáo phạm tội không phải chịu tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định không những nhằm trừng trị mà còn để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, phòng ngừa chung cho xã hội, đáp ứng được mục đích của hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: các bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, thu nhập chính từ trồng trọt. Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249- Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.

Biện pháp ngăn chặn: Cần áp dụng điều 329 – Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo việc thi hành án, thời gian tạm giữ, tạm giam sẽ được khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

Về vật chứng của vụ án là:

- 01 bì niêm phong bên trong đựng 0,24 gam Heroine; 01 phong bì bên trong đựng: 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, mang biển kiểm soát 25B1-822.40. Xác định đây là tài sản chung vợ chồng, khi bị cáo Ng dùng xe đi mua Heroine chị Tòng Thị E không biết nên Cơ quan điều tra Công an huyện Than Uyên đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị E là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nguồn gốc số Heroine các bị cáo khai mua của người phụ nữ không rõ lai lịch tại bản N, xã P nên không có căn cứ để điều tra xử lý.

Về án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo Vàng Văn K và Vàng Văn Ng phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015.

Tuyên bố các bị cáo: Vàng Văn K và Vàng Văn Ng phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

1. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Vàng Văn K 20 (hai mươi) tháng tù.

Xử phạt bị cáo Vàng Văn Ng 20 (hai mươi) tháng tù.

Thời hạn thi hành hình phạt tù của các bị cáo tính từ hồi 17 giờ 35 phút ngày 05/01/2022

2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong bên trong đựng 0,24 gam Heroine; 01 phong bì bên trong đựng: 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu.

(Tình trạng vật chứng, tài sản theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/4/2022 giữ Công an huyện Than Uyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên)

3. Về án phí: Căn cứ các điều 135, khoản 2 Điều 136 – Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Các bị cáo Vàng Văn K và Vàng Văn Ng, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 – Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo đối với những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu để xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ