vanban.org

Bản án 43/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình Tuyên án 17/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Ngọc Quảng tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁI THỤY
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2022/HS-ST
Ngày 17/5/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thúy và bà Phạm Hồng Thiêm.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nhật Khánh – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Long - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy,tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 40/2022/TLST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2022/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Ngọc Q, (tên gọi khác: không); Giới tính: Nam; sinh ngày xxx; Nơi cư trú: , huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ và tên cha: Vũ Ngọc C; Họ và tên mẹ: Lưu Thị H (đều đã chết). Vợ: Nguyễn Thị Y sinh năm: 1984 hiện lao động tự do và sinh sống tại , huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Bị cáo có 01 con sinh năm 2009.Tiền án: Không. Tiền sự: 01: Ngày 02/3/2021 bị Công an xã Thái Hưng ra quyết định xử phạt hành chính số 01/QĐ-XPHC về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý số tiền là 1.500.000 đồng, đã nộp phạt ngày 22/6/2021. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/01/2022 đến ngày 08/01/2022 chuyển tạm giam đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ- Công an huyện Thái Thụy.

(Bị cáo được dẫn giải có mặt tại phiên tòa).

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Chí Diên – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thái Bình.

* Người có quyền lợi, N vụ liên quan: Anh Nguyễn Quang N, sinh năm 1975. Nơi cư trú: Thôn Trung Thịnh, xã Thái Thịnh, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

* Người chứng kiến:

- Ông Phạm Văn C, sinh năm 1957.

- Anh Phạm Văn C1, sinh năm 1983.

Đều cư trú: , huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

(Ông Diên có mặt; anh N, ông C và anh C1 đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần ma túy để sử dụng, khoảng 11 giờ 15 phút ngày 05/01/2022, Vũ Ngọc Q (là người đã bị Công an xã Thái Hưng, huyện Thái Thuỵ ra quyết định xử phạt hành chính số 01/QĐ-XPHC 02/3/2021 về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý) đi nhờ xe của một người không quen biết từ xã Thái Xuyên đến xã Thái Thịnh, huyện Thái Thuỵ thì nhìn thấy bạn là Nguyễn Quang N đang đi bộ. Q xuống xe đến nói với N “anh em mình góp mỗi người 100.000 đồng để đi mua ma tuý sử dụng đi”, khi nghe thấy Q nói vậy, N đồng ý. Q đưa cho N 01 tờ tiền loại mệnh giá 100.000 đồng, N nhận tiền từ Q rồi cả hai cùng đi nhờ xe của người không biết tên, tuổi, địa chỉ đến khu vực chân cầu Trà Lý, thuộc địa phận xã Thái Thọ thì xuống xe đi bộ. N, Q đi bộ được một đoạn thì gặp và mua được 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng của một người đàn ông khoảng 30 tuổi không biết tên, địa chỉ. Sau khi mua được ma tuý N cất gói ma tuý vừa mua được vào túi áo khoác bên phải đang mặc rồi cùng Q đi bộ tìm chỗ để sử dụng ma tuý. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn Độc Lập, xã Thái Thọ, huyện Thái Thuỵ thì bị Công an xã Thái Thọ tuần tra phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của anh Phạm Văn C1 và ông Phạm Văn C, N tự giác lấy từ trong túi áo khoác bên phải đang mặc ra 01 gói được gói bằng giấy tráng kim loại màu trắng, mở ra bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng giao nộp cho Công an (niêm phong mẫu số A1). N và Q đều khai nhận đó là gói ma tuý, loại Heroine do N và Q góp mỗi người 100.000 đồng mua về để sử dụng; kiểm tra người Q, N không thu giữ gì thêm. Sau đó, Công an đã đưa N, Q, vật chứng và mời những người chứng kiến về trụ sở Uỷ ban nhân dân xã Thái Thọ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục khác theo quy định của pháp luật. Cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thái Thụy tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Ngọc Q và Nguyễn Quang N nhưng không phát hiện, quản lý đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.

Bản kết luận giám định số 06/KLGĐMT-PC09 ngày 07/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Vật chứng trong phong bì niêm phong mẫu số A1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,0827 gam (Không phẩy không nghìn tám trăm hai mươi bảy gam) Heroine STT: 09, Danh mục I Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 và Nghị định 60/2020/NĐ-CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận giám định trên.

Bản cáo trạng số 42/CT-VKSTT ngày 18/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố bị cáo Vũ Ngọc Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy giữ nguyên quyết định truy tố đối với Vũ Ngọc Q và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Ngọc Q mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc Q từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau khi giám định.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Không có ý kiến gì về tội danh đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh bị cáo khó khăn thuộc hộ nghèo để cho bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt, không phạt tiền và miễn án phí cho bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến gì về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, xử lý vật chứng và không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tố tụng, của người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến đề nghị, khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi tàng trữ 0,0827 gam ma túy, loại heroine để sử dụng và bị bắt quả tang. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người chứng kiến là anh Phạm Văn C1 và ông Phạm Văn C. Ngoài ra, còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật; biên bản khám xét do Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình; Kết luận giám định số 06/KLGĐMT-PC09 ngày 07/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi của bị cáo đã xâm hại quyền quản lý độc quyền của nhà nước đối với các chất gây nghiện. Bị cáo đã trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Tuy lượng ma túy bị cáo tàng trữ dưới 0,1 gam ma túy nhưng bị cáo có tiền sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Từ những căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Vũ Ngọc Q đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn và bố bị cáo là người có công trong kháng C chống Mỹ được tặng thưởng huy chương kháng C nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt chính: Ma túy là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến đại dịch HIV/AIDS đồng thời là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, bị cáo phải chịu mức án tương xứng với hành vi phạm tội của mình và cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt, có ích cho xã hội đồng thời đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên bị cáo tàng trữ ma túy với số lượng ít nên chỉ cần xử phạt bị cáo mức thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ sức giáo dục bị cáo đồng thời thể hiện sự khoan hồng của phát luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo đã bị xử phạt về hành vi tàng trữ ma túy nay tiếp tục vi phạm nên cần phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo tàng trữ với mục đích để sử dụng, không có việc làm ổn định và thuộc diện hộ nghèo nên cần phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là 3.000.000 đồng.

Về nguồn gốc số ma tuý: Bị cáo khai nhận mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi không biết tên, địa chỉ tại chân cầu Trà Lý nên cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra, xử lý.

Về vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định là loại nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Trong vụ án này còn có Nguyễn Quang N là người được Q rủ góp chung tiền đi mua ma tuý về cùng sử dụng bị Công an xã Thái Thọ bắt quả tang ngày 05/01/2022 do lượng ma tuý không đủ để cấu thành tội phạm, mặt khác N chưa có tiền án, tiền sự về các hành vi, tội phạm có liên quan đến ma tuý, nên Công an huyện Thái Thuỵ đã ra quyết định xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng đối với N là phù hợp.

Về án phí và quyền kháng cáo bản án: Miễn phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

quyÕt ®Þnh:

Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Điểm a Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc Q 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2022.

3. Về hình phạt bổ sung: Xử phạt bị cáo số tiền là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).

4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy sau giám định còn lại là 0,0706 gam. (Có đặc điểm ghi trong biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án huyện Thái Thụy ngày 20/4/2022).

5. Về án phí: Miễn án phí HSST cho bị cáo.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Ngọc Q có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 17/5/2022. Nơi nhận:

Cỡ chữ