- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Vũ Văn T 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 23/5/2022.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2022/HS-ST Ngày 09-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Hùng Thắng
Ông Nguyễn Sĩ Mạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 09/8/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2022/TLST-HS ngày 08/7/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2022/QĐXXST-HS ngày 27/7/2022 đối với bị cáo:
Vũ Văn T, sinh ngày 19/9/1985 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn Đ2, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T3, sinh năm 1960 và bà Trần Thị T1, sinh năm 1964; có vợ là Lương Thị N1, sinh năm 1987 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền sự, tiền án, nhân thân: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/5/2022; có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Trần Quốc V; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 11/5/2022, Vũ Văn T đi bộ từ nhà đến phía trước cửa quán Karaoke T thuộc xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng gặp một người đàn ông không quen biết để mua ma túy với giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng) được 01 gói giấy bạc, bên trong chứa chất ma túy Heroine. T cầm gói ma túy đi bộ vào trong nghĩa trang nhân dân thôn H, xã T, huyện K với mục đích để sử dụng thì bị Công an xã T phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng gồm: 01 gói giấy bạc, kích thước 0,3 cm x 01 cm, bên trong có chất bột màu trắng (ký hiệu M1).
Theo Kết luận giám định số 201/KL-KTHS(MT) ngày 13/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: Chất bột màu trắng của mẫu M1 gửi giám định là ma túy Heroine, có khối lượng: 0,1 gam.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu.
Tại bản cáo trạng số 32/CT-VKSKT ngày 08 tháng 7 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố Vũ Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu.
Tại Cơ quan điều tra, ông V là người chứng kiến khai về các tình tiết có liên quan như nội dung vụ án đã nêu, đúng như lời khai nhận của bị cáo và khai: Thời điểm Công an xã T tiến hành kiểm tra đối với T, ông là người chứng kiến toàn bộ việc lập biên bản, thu giữ vật chứng là 01 gói giấy bạc, kích thước 0.3 cm x 01 cm, bên trong có chất bột màu trắng của T đang cầm ở tay trái.
Sau quá trình xét hỏi, đánh giá tính chất của vụ án cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như bản cáo trạng, đề xuất về mức hình phạt, xử lý vật chứng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Vũ Văn T từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm lao động tự do, thu nhập không ổn định, sống phụ thuộc vào gia đình nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,04 gam Heroine còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật được niêm phong lại trong 01 bì giấy của mẫu số M1, dấu niêm phong số 201MT/PC09
Sau khi đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, tranh luận, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh, điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản kiểm tra, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Vào hồi 11 giờ 40 phút ngày 11/5/2022, tại khu vực trong nghĩa trang nhân dân thôn H, xã T, huyện K, Vũ Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1 gam Heroine để sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ cùng vật chứng. Như vậy, hành vi của bị cáo T đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, đồng thời là điều kiện, nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác; cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm đồng thời để phòng ngừa tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo được tặng giấy khen của Công an thành phố Hải Phòng do đã có thành tích xuất sắc trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm lao động tự do, thu nhập kinh tế không ổn định, không có tài sản riêng. Tại phiên tòa, Viện kiểm sát đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là có cơ sở, được chấp nhận. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,04 gam Heroine còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật được niêm phong lại trong 01 bì giấy của mẫu M1, dấu niêm phong số 201MT/PC09.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án này, người đàn ông bán ma túy cho T tại xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện K, thành phố Hải Phòng chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ, nên tách ra để điều tra, xử lý sau là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Vũ Văn T 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 23/5/2022.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,04 gam Heroine còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật được niêm phong lại trong 01 (một) bì giấy của mẫu M1, dấu niêm phong số 201MT/PC09 theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/7/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện K, HP; - Trại giam Hải Phòng; - Công an huyện K + PV 06; - THA phạt tù + PC 10; - Chi cục THADS huyện K, HP + Sở TP; - Bị cáo; - UBND xã Đ, huyện K, HP; - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Hoàng |