vanban.org

Bản án 43/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai Tuyên án 05/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” .

Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 8 (tám) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12/6/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” .
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƢ PR
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2022/HS-ST
Ngày 05- 12- 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƢ PR, TỈNH GIA LAI

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khả T

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn T

2. Ông Nguyễn Ngọc B

-Thư ký phiên Tòa: Bà Vũ Thị Thùy N – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Bích N- Kiểm sát viên .

Ngày 05 tháng 12 năm 2022 tại Hội trường xét xử A trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2022/HSST ngày 04 tháng 11 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2022/QĐXXST- HS, ngày 21 tháng 11 năm 2022. Đối với bị cáo: Nguyễn Văn T, sinh năm 1991, tại: Tỉnh Thái Nguyên; Chỗ ở hiện nay: Làng Tu 1, x Ia Ga, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Trọng B và bà Triệu Thị Đào, bị cáo chưa có vợ; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không có án tích, không bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật. Bị bắt tạm giam: từ ngày 12/6/2022 đến nay. (Có mặt). -Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: 1.Ông Bế Ích S, sinh năm 1971 Nơi cư trú: Thôn 4, x Ia Vê, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. (Có mặt). 2.Ông Lý Văn N, sinh năm 1977 Nơi cư trú: Thôn Đ ng Tâm, x Ia Ga, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. (Có mặt). 3.Ông Nguyễn Trọng B, sinh năm 1968 Nơi cư trú: Làng Tu 1, x Ia Ga, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T là đối tượng nghiện ma túy. Vào khoảng 12 giờ ngày 08/06/2022, Thái mượn xe máy nh n hiệu Nouvo BKS 81P1-091.99 của bố là ông Nguyễn Trọng B đi chơi. Sau đó Thái điều khiển xe đi đến khu vực cây xăng ng ba Phú Mỹ trên đường H Chí Minh thuộc thôn Phú Mỹ, x Ia Băng, huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai. Thái hỏi và mua ma túy của một người đàn ông tên Hòa không rõ nhân thân lai lịch với số tiền 5.000.000 đ ng. Người đàn ông này đưa cho Thái một gói giấy bạc chứa ma túy. Sau khi mua xong, Thái mang ma túy về nhà tại thôn Làng Tu 1, x Ia Ga, huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai và tiến hành chia thành nhiều gói nhỏ và gói lại trong chiếc khẩu trang cất trong người mục đích để sử dụng và bán lại cho đối tượng nghiện ma túy để kiếm lời.

Vào khoảng 09 giờ ngày 09/6/2022, Bế Ích S, sinh năm 1971, trú tại x Ia Vê, huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai là đối tượng nghiện ma túy gọi điện thoại cho Thái hỏi mua 200 nghìn đ ng ma túy, Thái đ ng ý và hẹn Sơn đến làng Nhỏ thuộc khu vực thôn Đ ng Tâm, xã Ia Ga, huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai giao ma túy. Sơn đi xe máy đến chỗ hẹn gặp Thái, Thái đưa cho Sơn 01 gói ma túy, Sơn trả tiền cho Thái r i Sơn về nhà sử dụng hết số ma túy trên.

Khoảng 8 giờ sáng ngày 12/6/2022, Lý Văn N, sinh năm 1977, trú tại thôn Đ ng Tâm, x Ia Ga, huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai là đối tượng nghiện ma túy hỏi mua nợ của Thái 01 gói ma túy với giá 200.000 đ ng. Năm mua nợ số ma túy trên hiện chưa đưa tiền. Sau đó Thái đ ng ý bán và đưa gói ma túy cho Năm tại thôn Đ ng tâm, x Ia Ga, huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai. Năm mang về sử dụng hết.

Đến khoảng 09 giờ cùng ngày 12/6/2022 Bế Ích S tiếp tục gọi điện thoại cho Thái hỏi mua 2 gói ma túy, Thái đ ng ý và hẹn Sơn ở b i đá ngầm x Ia Ga, huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai Sơn đến gặp Thái đưa số tiền 380.000 đ ng và Thái đưa Sơn 2 gói ma túy, Sơn về sử dụng hết số ma túy trên.

Đến 14 giờ cùng ngày, Thái đang ở nhà thì nhận được cuộc gọi của Bế Ích S hỏi mua ma túy với giá 300.000 đ ng. Thái đ ng ý sau hẹn Sơn giao ma túy tại làng Nhỏ thuộc khu vực thôn Đ ng Tâm, xã Ia Ga, huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai sau đó Thái lấy 2 gói ma túy cất vào 01 bao thuốc lá hiệu Eagle bỏ vào túi quần jean phía trước bên trái của Thái đang mặc, số ma túy còn lại trong khẩu trang Thái cất trong quần lót r i điều khiển xe mô tô BKS 81P1-091.99 đi đến khu vực đường liên thôn thuộc làng Tu 1, x Ia Ga, huyện Chư Pr ông, tỉnh Gia Lai như đ hẹn trước để giao ma túy cho Sơn. Thái đến vị trí hẹn, đang đứng đợi Sơn thì bị lực lượng Công an huyện Chư Pr tuần tra, kiểm soát bắt quả tang.

Qua kiểm tra, phát hiện và thu giữ: 02 gói giấy bạc, chứa chất rắn dạng cục bột màu trắng nghi là ma túy; 01 gói thuốc lá màu đen trắng hiệu Golden Eagle kích thước 9x5,5cm; 16 gói giấy bạc chứa chất rắn dạng cục bột màu trắng nghi ma túy; 01 ví da màu nâu kích thước 12x9; Số tiền 1.832.000 đ ng; 01 khẩu trang y tế màu xám; 01 điện thoại di động Nokia 1202 viền xám, lưng màu xanh; 01 xe mô tô có BKS 81P1-091.99.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T và Bế Ích S, Lý Văn N đ khai nhận nội dung hành vi nêu trên.

Tại bản Kết luận giám định số 409/KL-KTHS ngày 20/6/2022 của Phòng KTHS Công an tỉnh Gia Lai, kết luận

“1.Chất màu trắng dạng cục, bột trong 16 gói giấy (dạng giấy bạc) trong bì thư ghi Tang vật thu giữ của Nguyễn Văn T niêm phong gửi giám định là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 0,9308 gam

2.Chất màu trắng dạng cục, bột trong 02 gói giấy (dạng giấy bạc) trong bì thư ghi Tang vật thu giữ của Nguyễn Văn T niêm phong gửi giám định là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 0,0684 gam”

Tổng khối lượng ma túy là 0,9992 gam.

Sau khi giám định, Phòng Kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai đ hoàn trả 18 gói ma túy có khối lượng còn lại sau giám định là 0,8597 gam cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chư Pr bảo quản.

Tại bản Cáo trạng số: 39/CT – VKS, ngày 04 tháng 11 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai đ truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự;

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung ở trên.

Trình bày luận tội tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị Hội đ ng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) năm tù.

Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp cụ thể, không có tài sản nên không đảm bảo thi hành án do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- 01 (Một) gói thuốc lá màu đen trắng hiệu Golden Eagle kích thước 9x5,5 cm; 01 (Một) khẩu trang y tế màu xám;18 gói ma túy còn lại sau giám định được niêm phong theo quy định là vật chứng của vụ án và là phương tiện cất giấu ma túy, không còn giá trị sử dụng, do đó cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) điện thoại di động nh n hiệu Nokia 1202 nền màu xám, nắp lưng màu xanh bị cáo sử dụng làm phương tiện để liên lạc trao đổi mua bán ma túy với Bế Ích S, điện thoại đang hoạt động bình thường, cần tịch thu sung công.

- 01 (một) ví da màu nâu kích thước 12x9 cm (đo gập) không liên quan phạm tội cần trả lại cho bị cáo.

- Số tiền: 1.832.000 đ ng: Quá trình xác minh số tiền bị cáo có được từ việc đi làm thuê, số tiền này bị cáo dùng để xây nhà vệ sinh cho gia đình, không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo, tuy nhiên cần bảo thủ để đảm bảo thi hành án.

- Số tiền 580.000 đ ng là số tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán mua túy, cần truy thu sung công quỹ nhà nước.

- 01 (một) xe mô tô có BKS 81P1-091.99 (có gắn chìa khóa) có số máy 1DB1-104982; Số khung RLCN1DB10CY04973 đây là chiếc xe bị cáo sửu dụng đi mua ma túy, qua xác định chiếc xe trên là của ông Nguyễn Trọng B là chủ sở hữu hợp pháp, ông Bình không biết việc Thái sử dụng xe đi bán ma túy, nên cần trả lại xe cho ông Bình.

Ngoài ra Kiểm sát viên còn đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Chư Prông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pr, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, Truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền và trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình Điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và qua thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo đ thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ như các biên bản về hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai của Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản thu giữ vật chứng.

Như vậy, có cơ sở xác định: Nguyễn Văn T là đối tượng nghiện ma túy, vì muốn có ma túy để sử dụng và có tiền tiêu xài cá nhân nên Thái mua 01 gói ma túy loại Heroine của một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch tại thôn Phú Tân, x Ia Băng, huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai với số tiền 5.000.000 đ ng mang về nhà chia thành những tép nhỏ cất giấu trong người mục đích để sử dụng và bán cho các đối tượng nghiện ma túy có nhu cầu. Từ ngày 09/6/2022 đến ngày 12/6/2022 Thái đ bán cho Bế Ích S 03 (ba) lần ma túy với số tiền 880.000 đ ng và bán cho Lý Văn N 01(một) lần với số tiền 200.000 đ ng.

Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật.

Do vậy Hội đ ng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo phạm tội: “mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho x hội, xâm phạm đến trật tự an toàn x hội và trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước về các chất ma túy là chất gây nghiện, đây là sản phẩm Nhà nước độc quyền quản lý và thuộc danh mục cấm lưu hành. Tác hại của việc sử dụng trái phép chất ma túy để lại nhiều tác hại xấu cho đời sống x hội, sự bình yên của cộng đ ng và chính bản thân người sử dụng. Tệ nạn ma túy đang là điều nhức nhối của toàn x hội. Đảng và Nhà nước đ có nhiều biện pháp đấu tranh, nhằm xóa bỏ tệ nạn ma túy ra khỏi cộng đ ng, chính nó là nguyên nhân góp phần làm cho diễn biến tệ nạn ngày một phát triển và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác. Bản thân bị cáo là người đ trưởng thành, nhận thức rõ việc sử dụng chất ma túy là việc làm bị pháp luật nghiêm cấm, hành vi nhiều lần bán ma túy là vi phạm pháp luật nhưng để thỏa m n nhu cầu cho bản thân và mục đích kiếm lời, bị cáo đ đi mua ma túy về để sử dụng và bán kiếm lời.

Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, vì vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống của x hội một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian tự cải tạo mình trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.

Tuy nhiên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1; Điều 51 Bộ luật hình sự để áp dụng cho bị cáo.

. Liên quan đến vụ án có Lý Văn N, Bế Ích S là những người đ mua ma túy của Thái: Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chư Pr đ xem xét quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định là phù hợp.

Ông Nguyễn Trọng B: là chủ sở hữu xe mô tô Yamaha Nouvo SX có BKS 81P1-091.99. Quá trình điều tra xác định ông Bình không biết mục đích Thái mượn xe đi đâu, không biết việc Thái mua bán trái phép chất ma túy nên không xem xét xử lý là phù hợp.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Thái tại khu vực thôn Phú Mỹ, x Ia Băng: Cơ quan điều tra vẫn đang tiếp tục điều tra xác minh khi nào có kết quả sẽ xử lý đúng theo quy định pháp luật là phù hợp.

Về vật chứng: Áp dụng điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- 01 (Một) gói thuốc lá màu đen trắng hiệu Golden Eagle kích thước 9x5,5 cm; 01 (Một) khẩu trang y tế màu xám;18 gói ma túy còn lại sau giám định được niêm phong theo quy định là vật chứng của vụ án và là phương tiện cất giấu ma túy, không còn giá trị sử dụng, do đó cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

- 01 (một) điện thoại di động nh n hiệu Nokia 1202 nền màu xám, nắp lưng màu xanh bị cáo sử dụng làm phương tiện để liên lạc trao đổi mua bán ma túy với Bế Ích S, điện thoại đang hoạt động bình thường, cần tịch thu sung công là phù hợp.

- 01 (một) ví da màu nâu kích thước 12x9 cm (đo gập) không liên quan phạm tội cần trả lại cho bị cáo là phù hợp;

- Số tiền: 1.832.000 đ ng: Quá trình xác minh số tiền bị cáo có được từ việc đi làm thuê, số tiền này bị cáo dùng để xây nhà vệ sinh cho gia đình, không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo là phù hợp, tuy nhiên cần bảo thủ để đảm bảo thi hành án.

- Số tiền 580.000 đ ng là số tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán mua túy, cần truy thu sung công quỹ nhà nước là phù hợp.

- 01 (một) xe mô tô có BKS 81P1-091.99 (có gắn chìa khóa) có số máy 1DB1-104982; Số khung RLCN1DB10CY04973 đây là chiếc xe bị cáo sửu dụng đi mua ma túy, qua xác định chiếc xe trên là của ông Nguyễn Trọng B là chủ sở hữu hợp pháp, ông Bình không biết việc Thái sử dụng xe đi bán ma túy, nên cần trả lại xe cho ông Bình là phù hợp.

Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp cụ thể, không có tài sản nên không đảm bảo thi hành án do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” .

2. Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ vào Điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 8 (tám) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12/6/2022.

3. Về vật chứng: Áp dụng điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

3.1. Tịch thu tiêu hủy đối với:

- 01 (Một) gói thuốc lá màu đen trắng hiệu Golden Eagle kích thước 9x5,5 cm;

- 01 (Một) khẩu trang y tế màu xám;

- 18 gói ma túy còn lại sau giám định được niêm phong theo quy định.

3.2. Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nh n hiệu Nokia 1202 nền màu xám, nắp lưng màu xanh.

3.3. Truy thu số tiền 580.000 đ ng là số tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán mua túy.

3.4. Trả lại:

- 01 (một) ví da màu nâu kích thước 12x9 cm (đo gập) cho bị cáo;

- Trả lại cho bị cáo số tiền 1.832.000 đ ng, cần bảo thủ số tiền này để đảm bảo cho việc thi hành án.

- 01 (Một) xe mô tô có BKS 81P1-091.99 (có gắn chìa khóa) có số máy 1DB1-104982; Số khung RLCN1DB10CY04973 cho ông Nguyễn Trọng B là chủ sở hữu hợp pháp.

(Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 04/11/2022 giữa Công an huyện Chư Pr với Chi cục thi hành án dân sự huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai).

4.Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đ ng).

5. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (05/12/2022), bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án đến Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ