- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Văn N - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn N phạm tội “Hủy hoại rừng”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2022/HS - ST Ngày 08/9/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Văn Mẫn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông La Đứ c Cườ ng
2. Bà Trầ n Thị Miên
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoà ng Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Đậu Xuân Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2022/TLST - HS ngày 02/8/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2022/QĐXXST- HS ngày 25/8/2022 đối với bị cáo:
Nông Văn N; sinh năm 1985; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn V, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao độ ng tự do ; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộ c: Nùng; tôn giá o: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nông Văn S và bà Trầ n Thị H; vợ : Vi Thị H; con: 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khởi nơi cư trú từ ngày 09/6/2022 đến nay; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Nông Văn N: Bà Hoàng Thị Thu H - Trợ giú p viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn. Vắ ng mặ t (có đơn xin xé t xử vắ ng mặ t).
* Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụ ng : Ông Lục Văn C – Phó Trưởng phòng Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện C, tỉnh Bắc Kạn (Theo văn bản ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện C). Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Đặng Thị Q, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn V, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Vắ ng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Ông Nông Văn Đ, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn V, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Vắ ng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
3. Ông Nông Văn D, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn V, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Vắ ng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘ I DUNG VỤ Á N:
Theo cá c tà i liệ u có trong hồ sơ vụ á n và diễ n biế n tạ i phiên tò a, nộ i dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 15/7/2021 và ngày 01/8/2021, Trạm kiểm lâm B thuộc Hạt Kiểm lâm huyện C, tỉnh Bắc Kạn phối hợp với Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn kiểm tra, phát hiện một phần diện tích rừng (Qua đo đạc sơ bộ bàn đầu xác định được tổng diện tích rừng bị phát phá là 15690m2) tại lô 3 khoảnh 1 Tiểu khu 333 thuộc thôn V, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn bị người dân phát phá trái phép cây cối tự nhiên lấy mặt bằng để canh tác, trồng trọt. Quá trình điều tra, xác minh ban đầu xác định trong tổng số diện tích bị phát phá trên có 8371m2 là do Nông Văn N, trú tại thôn V, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn một mình trực tiếp phát phá trái phép vào khoảng tháng 5 năm 2021 với mục đích để lấy đất canh tác.
Ngày 17/12/2021, Hạt kiểm lâm huyện C đã tiến hành bàn giao toàn bộ hồ sơ vụ việc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C để tiến hành điều tra, xác minh theo quy định.
Ngày 12/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C phối hợp với các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương xã B và những người có liên quan tiến hành khám nghiệm hiện trường. Kết quả sử dụng máy định vị toàn cầu (GPS - MAP 78) để đo đạc, thống kê xác định tổng diện tích rừng bị Nông Văn N phát phá trái phép thuộc lô 3 khoảnh 1 Tiểu khu 333 thuộc thôn V, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn là 7404m2. Qua khám nghiệm, xác định trên diện tích bị phát phá đã được trồng cây mới loại cây mỡ và có nhiều cây, cỏ mọc tái sinh. Tổng số lâm sản bị thiệt hại qua kiểm đếm tại hiện trường có 32 gốc cây gỗ tự nhiên và qua điều tra ô tiêu chuẩn xác định số cây vầu bị chặt phá là 2798 cây. Tiến hành kiểm tra, đối chiếu với bản đồ quy hoạch 03 loại rừng ban hành kèm theo Quyết định số 1794/QĐ-UBND ngày 26/10/2018 của UBND tỉnh Bắc Kạn về việc phê duyệt kết quả rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Bắc Kạn và bản đồ hiện trạng rừng năm 2020 trên địa bàn huyện C ban hành theo Quyết định 278/QĐ-UBND ngày 08/02/2021 của UBND huyện C thì diện tích rừng do Nông Văn N phát phá là rừng sản xuất, trạng thái là rừng tự nhiên (Rừng vầu tự nhiên núi đất).
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS ngày 12/02/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Chợ Đồn kết luận: “2798 cây vầu có giá trị tại thời điểm tháng 5 năm 2021 là 5.888.400đ (Năm triệu tám trăm tám mươi tám nghìn bốn trăm đồng)”.
Quá trình điều tra, truy tố Nông Văn N khai nhận: Khoảng tháng 06 năm 2019, N được vợ chồng anh trai mình là Nông Văn Đ và Đặng Thị Q chia cho quản lý, sử dụng (Bằng lời nói) một phần diện tích đất rừng ông bà được Ủy ban nhân dân huyện C giao cho theo theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 456499 do UBND huyện C cấp ngày 06/01/2009. Đến khoảng tháng 5 năm 2021, do có nhu cầu lấy đất canh tác (Trồng rừng) nên N một mình trực tiếp sử dụng dao và máy cưa xăng (Mượn của em trai Ngô là Nông Văn D về đi cắt củi) phát phá trái phép 01 phần diện tích rừng được anh Đức và chị Q chia cho. Khi phát xong, các cây cối khô N đã tiến hành đốt dọn rồi trồng cây mỡ trên toàn bộ diện tích bị phát phá, sau đó thì bị cơ quan chức năng phát hiện, lập biên bản.
Tiến hành điều tra, xác minh: Anh Nông Văn Đ và chị Đặng Thị Q khai nhận: Diện tích rừng mà Nông Văn N phát phá để trồng rừng là của gia đình anh chị được UBND huyện C, tỉnh Bắc Kạn giao cho và và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2019, anh chị đã chia cho em trai anh Đ là Nông Văn N một phần diện tích rừng được giao để quản lý, sử dụng (Chia cho bằng lời nói), sau đó N phát phá để trồng rừng thì bản thân anh chị không được biết hay được N hỏi ý kiến gì. Chỉ đến khi cơ quan chức năng đến làm việc thì anh chị mới được biết sự việc N phát phá phần diện tích rừng anh chị chia cho N quản lý, sử dụng.
Anh Nông Văn D khai nhận: Khoảng tháng 5 năm 2021, anh có được cho anh trai là Nông Văn N mượn 01 chiếc máy cưa xăng (cưa lốc) để cắt củi, việ c N dùng máy cưa để phát phá rừng thì D không hay biết. Sau khi N trả lại máy cưa thì D sử dụ ng để phát phá rừng trái phép nên đã bị Cơ quan điều tra tạm giữ trong một vụ án khác.
Quá trình điều tra, truy tố bị cáo Nông Văn N đều thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phát phá rừng trái phép của mình. Sau khi phát phá N đã tự nguyện trồng lại cây mỡ trên một phần diện tích rừng (7404m2) đã phát phá trái phép. Ngày 18/4/2022, Ngô đã tự nguyện nộp vào Chi cục THADS huyện Chợ Đồn số tiền 5.888.400 đồ ng theo Biên lai thu tiền số 0001275 để bồi thường thiệt hại.
Về vật chứng: Đối với số lâm sản (Các cây tự nhiên) và 2798 cây vầu bị chặt phá trên diện tích rừng mà Nông Văn N phát phá trái phép do N đã đốt dọn, nên bị mục nát quá trình điều tra không tiến hành thu hồi được.
Đối với 01 (một) chiếc máy cưa xăng mà Nông Văn N mượn của Nông Văn D rồi dùng vào việc phá phá diện tích rừng trên hiện tại đang được tạm giữ để điều tra xử lý trong 01 vụ án khác.
Đối với 01 (một) con dao (loại dao quắm) bằng kim loại, màu nâu đen, dài 53,5cm, chỗ rộng nhất 4,5cm, cán dao bằng gỗ dài 12cm, dao đã qua sử dụng tạm giữ của Nông Văn N đang được tạm giữ tại Kho vật chứng Chi cụ c Thi hà nh á n dân sự huyện Chợ Đồn chờ xử lý.
Phần dân sự: Nguyên đơn dân sự Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn đã cử ông Lục Văn C – Phó trưởng Phòng phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện C đại diện tham gia tố tụng đã có đơn đề nghị yêu cầu Nông Văn N phải bồi thường thiệt hại tài sản cho Nhà nước số tiền 5.888.400 đồ ng theo kết luận định giá tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 34/CT - VKSCĐ ngày 29 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn đã truy tố bị cáo Nông Văn N về tội“Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nông Văn N phạm tội “Hủy hoại rừng”. Về hình phạt đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; Điề u 38; điểm b điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nông Văn N từ 12 đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 đến 36 tháng; Hình phạt bổ sung đề nghị không xử phạt tiền đối vớ i bị cá o; về trách nhiệm dân sự đề nghị áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộ c bị cá o phả i bồ i thườ ng thiêt hạ i về tà i sả n cho Ủ y ban nhân dân huyệ n C vớ i số tiề n 5.888.400 đồ ng. Ghi nhậ n bị cá o đã nộ p đủ số tiề n bồ i thườ ng tại chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn ; về vậ t chứ ng đề nghị á p dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủ y 01 (Một) con dao chặt bằng kim loại là công cụ dùng vào việc phát phá rừng trái phép; về án phí đề nghị miễ n toà n bộ á n phí cho bị cá o.
Tại bản luận cử của người bào chữa cho bị cá o có quan điểm thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm về tội danh, về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về hình phạt bổ sung , về bồi thường thiệt hại , về xử lý vậ t chứ ng và về phầ n án phí. Riêng phầ n hình phạt chính: Ngườ i bà o chữ a đề nghị Hộ i đồ ng xé t xử xem xé t xử phạ t bị cáo 01 năm tù và cho bị cá o hưở ng á n treo theo quy đị nh tạ i Điề u 65 Bộ luậ t hì nh sự .
Tại phiên tòa người đại diện của nguyên đơn dân sự ông Lụ c Văn C yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại về lâm sả n cho Ủ y ban nhân dân huyệ n C vớ i tổ ng số tiề n 5.888.400 đồ ng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nông Văn Đ và bà Đặng Thị Q, ông Nông Văn D đều có đơn xin xét xử vắng mặt , nộ i dung đơn đề u thể hiệ n không có yêu cầ u gì.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒA ÁN:
Trên cơ sở nộ i dung vụ á n , căn cứ và o cá c tà i liệ u có trong hồ sơ vụ á n đã
đượ c tranh tụng tại phiên tò a, Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n định như sau:
[1] Về hà nh vi, quyế t đị nh tố tụ ng củ a Cơ quan điề u tra Công an huyệ n Chợ Đồn, Điề u tra viên , Việ n kiể m sá t huyệ n Chợ Đồn , Kiể m sá t viên trong quá trì nh điề u tra, truy tố đã thự c hiệ n đú ng về thẩ m quyề n, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luậ t Tố tụ ng hì nh sự . Quá trình điều tra và tại phiên tòa ngư ời tham gia tố tụng trong vụ á n không có ý kiế n khiế u nạ i về hà nh vi, quyế t đị nh củ a cơ quan tiế n hà nh tố tụ ng và ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng . Do đó , các hành vi, quyế t đị nh tố tụ ng củ a Cơ quan tiế n hà nh tố tụ ng, ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng đã thự c hiệ n đề u hợ p phá p.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Do có nhu cầu lấy đất canh tác (Trồng rừng) nên vào khoảng tháng 5 năm 2021 bị cáo Nông Văn N đã có hành vi dùng dao và máy cưa xăng phát phá trái phép 7404m2 diện tích rừng tự nhiên, trạng thái là rừng vầu tự nhiên núi đất, tại lô 3 khoảnh 1 Tiểu khu 333 thuộc thôn V, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, gây thiệt hại 2798 cây vầu có giá trị 5.888.400 đồ ng.
Hành vi phát phá rừ ng trái phép vớ i diệ n tí ch7404m2 nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số: 34/CT - VKSCĐ ngày 29 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn truy tố bị cá o là có căn cứ .
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến hoạt động quản lý bảo vệ rừ ng củ a Nhà nướ c, ảnh hưởng đến công tác phát triển và bảo vệ rừng tạ i đị a phương. Do đó cần xử lý nghiêm đối với bị cáo để đảm bảo giáo dục bị cáo đồng thời để đảm bảo tính răn đe phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phát phá rừng trái phép bị cáo đã tự nguyện trồng cây mỡ trên toàn bộ diện tích rừng phát phá và đã nộp m ột khoản tiền tại Chi cục T hi hà nh án dân sự để để bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả xảy ra nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo đượ c ngườ i đạ i diệ n của nguyên đơn dân sự xin giả m nhẹ hì nh phạ t nên bị cá o đượ c hưở ng tì nh tiế t giả m nhẹ trá ch nhiệ m hì nh sự theo khoả n 2 Điề u 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng đủ điề u kiệ n để xử phạt tù và cho hưởng án treo . Tuy nhiên cầ n á p dụ ng mứ c xử phạ t như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mớ i đảm bảo việc răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy đị nh tạ i khoản 4 Điề u 243 Bộ luậ t hì nh sự quy đị nh thì người phạm tội cò n có thể bị phạt tiền từ
20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Hộ i đồ ng xé t xử xé t thấ y bị cá o không có nghề nghiệ p , có thu nhậ p thấ p, số ng tạ i vù ng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn , không có khả năng để thi hà nh hì nh phạ t tiề n nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trì nh điề u tra và tạ i phiên tò a người đại diện của nguyên đơn dân sự yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại về lâm sả n cho Ủy ban nhân dân huyện C vớ i số tiề n là 5.888.400 đồ ng. Tại phiên tòa bị cáo nhất trí bồ i thườ ng theo yêu cầ u củ a đạ i diệ n nguyên đơn dân sự . Quá trình điều tra bị cáo đã nộ p số tiền 5.888.400 đồ ng tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn để bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn dân sự . Hội đồng xét xử thấ y việ c nộ p tiề n bồi thường thiệt hại của bị cáo là tự nguyện không trái pháp luật và đạo đức xã hội cần đượ c chấp nhận.
[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (Một) chiếc máy cưa xăng bị cáo dùng vào việ c phát phá cây rừ ng trá i phé p, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của Nông Văn D, D có được cho bị cáo N mượ n để cắ t củ i việ c bị cá oN sử dụ ng chặ t phá rừ ng trái phép thì D không biế t. Sau khi bị cáo N trả lại, D đã sử dụ ng để phát phá rừng trái phép nên bị cơ quan cả nh sá t điề u tra tạm giữ . Hiệ n nay chiế c máy cưa trên đã được tịch thu sung quỹ Nhà nướctrong vụ á n khá c.
Đối với số lâm sản (Các cây tự nhiên) và 2798 cây vầu bị chặt phá trên diện tích rừng mà Nông Văn N phát phá trái phép do đã bị N đốt dọn, mục nát nên quá trình điều tra không tiến hành thu hồi được.
[9] Đối với anh Nông Văn Đ và chị Đặng Thị Q là người được giao quản lý, sử dụng diện tích rừng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 456499 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 06/01/2009. Quá trình điều tra xác định anh Đ, chị Q không liên quan đế n việ c bị cáo hành vi phát phá trái phép rừng của bị cáo và không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Đồn không xem xét, xử lý là đúng quy định pháp luật . Đối với Nông V ăn D là ngườ i cho bị cá o N mượ n chiế c má y cưa xăng, quá trình điều tra xác định D không liên quan đế n việ c bị cáo hành vi phát phá trái phép rừng của bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xem xét, xử lý là đúng quy định pháp luậ t.
[10] Về án phí: Bị cáo Nông Văn N là người dân tộc thiểu số , số ng tạ i vù ng kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên đượ c miễ n toà n bộ án phí sơ thẩ mtheo quy đị nh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn N phạm tội “Hủy hoại rừng”.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nông Văn N 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nông Văn N cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
2. Về trá ch nhiệ m dân sự : Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Nông Văn N phải bồi thường thiệt hại về tà i sả n cho Ủy Ban
nhân dân huyệ n C , tỉnh Bắc Kạn với số tiền là 5.888.400 đồ ng. Ghi nhậ n việ c bị cáo N đã nộ p đủ số tiề n 5.888.400 đồ ng để bồ i thườ ng theo Biên lai thu tiền số 0001275 ngày 18/4/2022 của Chi cụ c Thi hà nh á n dân sự huyệ n Chợ Đồ n, tỉnh Bắc Kạn .
3. Về vậ t chứ ng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao (loại dao quắm) bằng kim loại, màu nâu đen, dài 53,5cm, chỗ rộng nhất 4,5cm, cán dao bằng gỗ dài 12cm, dao đã qua sử dụng tạm giữ của Nông Văn N.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn).
Tạm giữ số tiền 5.888.400 đồng của bị cáo Nông Văn N đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0001275 ngày 18/4/2022 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn để đảm bảo thi hành án khoả n tiề n bồ i thườ ng thiệ t hạ i cho bị cáo N.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điể m đ khoả n 1 Điề u 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mứ c thu, miễ n, giảm, thu nộ p, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễ n á n phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cá o Nông Văn N.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, nguyên đơn dân sự, có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắ ng mặ t tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhậ n đượ c bả n á n hoặ c ngà y bả n á n đượ c niêm yế t.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKS tỉnh; - Sở tư pháp; - VKSND C; - Công an C; - THADS C; - UBND xã B; - Người tham gia tt; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Triệu Văn Mẫn |