vanban.org

Bản án 43/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 15/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Viết H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Vũ Viết H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho bị cáo hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 15/8/2022). Giao bị cáo Vũ Viết H cho Ủy ban nhân dân phường M, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. G… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Viết H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2022/HS-ST
Ngày: 15-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Quốc Tiến

2. Bà Nguyễn Thị Phượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Sang - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 12/8 và 15/8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2022/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 39/2022/HSST-QĐ ngày 21 tháng 7 năm 2022, đối với bị cáo:

Vũ Viết H, sinh năm 1980; Tên gọi khác: Không có; Nơi sinh: tỉnh Thái Bình; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ 1, khóm M, phường M1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tài xế; Con ông: Vũ Viết C, sinh năm 1952 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị M2, sinh năm 1960; Vợ: Nguyễn Ngọc U, sinh năm 1979; Con: Có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2008 nhỏ nhất sinh năm 2012; Gia đình có 04 anh, chị, em, bị cáo là con thứ 02; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo tại ngoại. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Người bào chữa cho bị cáo:

Ông Vũ Tuấn A – Luật sư Công ty Luật Hợp danh B, Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

* Người bị hại: Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1968 (nạn nhân chết).

Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Ngọc L:

Châu Văn Tho, sinh năm 1965.

Châu Thúy P, sinh năm 1997.

Châu Hoài P1, sinh năm 2000.

Cùng địa chỉ: Số 246/8 Cách mạng tháng Tám, Tổ 38, khóm P2, phường P3, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Ông Châu Văn T, chị Châu Hoài P1 ủy quyền cho chị Châu Thúy P theo văn bản ủy quyền ngày 05/4/2022. Châu Thúy P có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đại diện hợp pháp của bị hại là:

Bà Võ Thị Băng G - Luật sư Văn phòng luật sư G, thuộc đoàn Luật sư tỉnh Đồng Tháp (có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Ngọc U, sinh năm 1979.

Địa chỉ: Tổ 1, khóm M, phường M1, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt)

* Người làm chứng:

Nguyễn Văn H1, sinh năm 1968;

Địa chỉ: Khóm T1, thị trấn T2, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Vũ Viết H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 10/12/2021, Vũ Viết H điều khiển xe ôtô tải mang biển kiểm soát 66C-088.38 lưu thông theo hướng thành phố Cao Lãnh đi ngã ba An Hữu, khi đến ngã tư đèn tín hiệu trên đường Quốc lộ 30 gần cầu Rạch Miễu thuộc khóm T1, thị trấn T2, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp do không chú ý quan sát phía trước nên phần đầu cản trước bên trái của xe ô tô va chạm vào đuôi xe mô tô mang biển kiểm soát 66F1-303.93 do bà Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1968 cư trú ấp N, xã T2, huyện Cao Lãnh điều khiển đang bật đèn tín hiệu rẻ trái hướng về Trại giam Cao Lãnh, làm xe mô tô và bà L bị ngã xuống đường trước đầu xe ô tô tải của H. Lúc này, xe ô tô tiếp tục di chuyển cán lên người bà L. Hậu quả: Nguyễn Ngọc L tử vong trên đường đưa đi cấp cứu, xe mô tô bị hư hỏng nhiều bộ phận.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 34/TTh-TTP ngày 20/12/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Tháp đã giám định và kết luận nguyên nhân chết của bà Nguyễn Ngọc L là nạn nhân chết do: Shock đa chấn thương/Tai nạn giao thông.

Kết quả khám nghiệm hiện trường ngày 10/12/2021, xác định: Mặt đường nơi xảy ra tai nạn là nơi ngã tư giao nhau có đèn tín hiệu (đỏ, vàng, xanh), tầm nhìn không bị che khuất, mặt đường bê tông nhựa rộng 8,30m, đường phẳng không gồ ghề, trơn trợt. Tổ chức giao thông hai chiều riêng biệt, nơi xảy ra tai nạn không có vạch kẻ đường, mật độ giao thông cao. Xác định và chọn mép đường bên phải theo hướng thành phố Cao Lãnh – An Hữu làm mép đường chuẩn xác định vị trí vùng va chạm giữa xe ô tô tải biển số 66C-088.38 và xe mô tô biển số 66F1-303.93 có kích thước là 0,50m x 0,50m cách mép lề chuẩn là 5,80m.

Từ kết quả khám nghiệm hiện trường trên xác định lỗi do H điều khiển xe ô tô tải thiếu chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn (Vi phạm điểm a khoản 7 Điều 5 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ và Điều 11 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ) nên khi gặp bà Nguyễn Ngọc L điều khiển xe mô tô đang bật đèn tín hiệu rẻ trái hướng về Trại giam Cao Lãnh không kịp xử lý tình huống dẫn đến tai nạn giao thông. Cho nên nguyên nhân chính dẫn đến vụ tai nạn giao thông là do bị cáo Vũ Viết H gây ra.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ:

- 01 (một) xe ô tô tải biển kiểm soát 66C-088.38, số máy 3J1FS8D00075; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tải số 016750; 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số 790183045414 mang tên Vũ Viết H; 01 giấy chứng nhận kiểm định số KD 4086599.

- 01 (một) xe mô tô 02 bánh màu sơn nâu – trắng, số máy 23C1-044790, số khung 10BY044788, biển kiểm soát 66F1-303.93, nhãn hiệu AMAHA; 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô số 001931, mang tên Nguyễn Ngọc L, địa chỉ: ấp N, xã T2, huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp.

Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo H đã thỏa thuận với đại diện hợp pháp của bị hại bồi thường chi phí mai táng, tổn thất tinh thần và các chi phí khác với tổng số tiền là 500.000.000 đồng. Hiện bị cáo đã bồi thường xong, các đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm và có đơn yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.

Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Vũ Viết H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám phương tiện và các kết luận được thu thập trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 21/CT-VKSHCL ngày 27/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Vũ Viết H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh thay đổi một phần quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Căn cứ Điều 260 của Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Viết H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Vũ Viết H với mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo.

- Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không xem xét giải quyết.

- Về vật chứng: Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Trả lại cho bị cáo 01 xe ô tô tải biển kiểm soát 66C-088.38, số máy 3J1FS8D00075; giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tải số 016750; giấy phép lái xe ô tô hạng C số 790183045414 mang tên Vũ Viết H; giấy chứng nhận kiểm định số KD 4086599;

+ Trả lại cho đại diện bị hại 01 xe mô tô màu sơn nâu – trắng, số máy 23C1-044790, số khung 10B 044788 biển kiểm soát 66F1-303.93, nhãn hiệu AMAHA; giấy đăng ký xe mô tô số 001931, mang tên Nguyễn Ngọc L, địa chỉ: ấp N, xã T2, huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Viết H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Người đại diện hợp pháp của bị hại chị Châu Thị Thúy P trình bày: Chị Châu Thúy P thống nhất với Bản Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát. Chị P yêu cầu bị cáo Vũ Viết H bồi thường các khoản sau: Tiền mai táng phí, tiền tổn thất tinh thần do tính mạng bị xâm phạm; Tiền hàng hóa của bà L phải chịu lỗ do không bán được; Tiền chi phí thuốc, sinh hoạt của ông Châu Văn T (chồng bà L); Chi phí học, sinh hoạt của Châu Hoài P1 (con bà Lý) khi tốt nghiệp đại học; Chi phí sửa xe mô tô 66F1-303.93. Tổng các chi phí là 500.000.000 đồng trừ đi số tiền 70.000.000 đồng bị cáo H đã hỗ trợ chi phí mai táng cho gia đình của bị hại, số tiền còn lại chị P đã nhận được của bị cáo là 430.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường thêm. Về phần hình phạt đối với bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Ngọc U trình bày: Sau khi tai nạn xảy ra, chị và bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 500.000.000 đồng. Đây là tài sản của chị U và bị cáo, chị U không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền này.

Luật sư Vũ Tuấn A trình bày lời bào chữa cho bị cáo: Thống nhất với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh và khung hình phạt và các vấn đề khác áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, được đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo có cha là người có công với cách mạng. Đồng thời bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ khác phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ, xử phạt bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đại diện hợp pháp của bị hại phát biểu quan điểm: Thống nhất với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản của tội danh và mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, phía đại diện hợp pháp của người bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền là 500.000.000 đồng, bị cáo đồng ý và đã bồi thường xong, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đề nghị trả lại vật chứng là xe mô tô biển kiểm soát 66F1-303.93 và giấy đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Ngọc L cho gia đình của bị hại.

Bị cáo nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cao Lãnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện Cao Lãnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Vũ Viết H đã thừa nhận hành vi phạm tội được mô tả trong bản Cáo trạng số 21/CT-VKSHCL ngày 27/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh là đúng với hành vi của bị cáo. Vũ Viết H đã điều khiển xe ôtô tải mang biển kiểm soát 66C-088.38 lưu thông theo hướng thành phố Cao Lãnh đi ngã ba An Hữu khi đến ngã tư đèn tín hiệu do không chú ý quan sát nên đã va chạm vào xe mô tô biển kiểm soát 66F1-303.93 do bà Nguyễn Ngọc L điều khiển phía trước đang rẽ trái. Đây là nguyên nhân trực tiếp gây ra vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra vào lúc 16 giờ ngày 10/12/2021 tại ngã tư đèn tín hiệu giao thông trên đường Quốc lộ 30 gần cầu Rạch Miễu thuộc khóm T1, thị trấn T2, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Hậu quả làm bà Lý tử vong.

Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản hiện trường xảy ra vụ tai nạn, kết luận giám định pháp y và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận, hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Viết H đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét hành vi của bị cáo Vũ Viết H, khi thực hiện tội phạm, bị cáo là người đã thành niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Bản thân bị cáo đã học tập và được cấp giấy phép lái xe theo quy định nhưng bị cáo điều khiển xe không tuân thủ đúng quy định của pháp luật về giao thông đường bộ. Cụ thể là bị cáo đã điều khiển xe thiếu quan sát, không đảm bảo an toàn giao thông để xảy ra va chạm khi lưu thông và đây là nguyên nhân chính gây ra vụ tai nạn giao thông như đã nêu trên.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tâm lý người dân khi tham gia giao thông, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Do vậy, đối với bị cáo cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi sự việc xảy ra thì bị cáo đã thỏa thuận bồi thường khắc phục hậu quả cho phía đại diện hợp pháp của bị hại xong và được những người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; về nhân thân, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có cha (ông Vũ Viết C) là người có công với cách mạng. Với các tình tiết giảm nhẹ nêu trên nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Xét thấy, bị cáo Vũ Viết H có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và không có tình tiết tăng nặng, đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự, không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam mà chỉ áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo. Đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo học tập, lao động để trở thành công dân tốt và là người có ích cho gia đình, xã hội.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường khắc phục hậu quả xong số tiền 500.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại không còn yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Đối với 01 xe ô tô tải biển kiểm soát 66C-088.38, số máy 3J1FS8D00075; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tải số 016750; 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số 790183045414 mang tên Vũ Viết H và 01 giấy chứng nhận kiểm định số KD 4086599 là tài sản cá nhân của bị cáo cần xem xét trả lại cho bị cáo.

+ Đối với 01 xe mô tô màu sơn nâu – trắng, số máy 23C1-044790, số khung 10B 044788 biển kiểm soát 66F1-303.93, nhãn hiệu AMAHA và giấy đăng ký xe mô tô số 001931, mang tên Nguyễn Ngọc L, địa chỉ: ấp N, xã T2, huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp là tài sản của bị hại cần xem xét trả lại cho đại diện hợp pháp của bị hại.

(Hiện các vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh đang quản lý)

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh về tội danh, khung hình phạt và các vấn đề khác là có căn cứ nên chấp nhận.

Xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Vũ Viết H là có căn cứ nên chấp nhận.

Xét đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đại diện bị hại có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Vũ Viết H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Vũ Viết H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho bị cáo hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 15/8/2022).

Giao bị cáo Vũ Viết H cho Ủy ban nhân dân phường M, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường M, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Vũ Viết H cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Vũ Viết H phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp đang trong thời gian thử thách mà bị cáo Vũ Viết H phạm tội mới, thì Tòa án buộc bị cáo Vũ Viết H phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 Bộ luật hình sự.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường khắc phục hậu quả xong nên không đặt vấn đề xem xét.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Trả lại cho bị cáo 01 (một) xe ô tô tải biển kiểm soát 66C-088.38, số máy 3J1FS8D00075; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tải số 016750; 01 (một) giấy phép lái xe ô tô hạng C số 790183045414 mang tên Vũ Viết H và 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số KD 4086599.

+ Trả lại cho đại diện hợp pháp của bị hại 01 (một) xe mô tô màu sơn nâu – trắng, số máy 23C1-044790, số khung 10B 044788 biển kiểm soát 66F1-303.93, nhãn hiệu AMAHA và 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô số 001931, mang tên Nguyễn Ngọc L, địa chỉ: ấp N, xã T2, huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp.

(Hiện các vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/6/2022).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Buộc bị cáo Vũ Viết H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ