vanban.org

Bản án 43/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Châu Thị M và anh Nguyễn Hoàng H.

Về con chung: tiếp tục giao cháu Nguyễn Tuấn Khôi – sinh ngày 02/04/2007 và Nguyễn Tuấn Khoa – sinh năm: 25/10/2008 cho anh Nguyễn Hoàng H được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi hai cháu tròn 18 tuổi. Về cấp dưỡng: Do anh Hưng vắng mặt nên khi nào anh Hưng có yêu cầu cấp dưỡng sẽ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Châu Thị My - Nguyễn Hoàng Hưng"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Châu Thị M và anh Nguyễn Hoàng H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ GIÁ RAI
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2022/HNGĐ-ST
Ngày 20 tháng 6 năm 2022
V/v: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI – TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quốc Khởi

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thành Nhạn

2. Bà Cao Thị Mỹ Phượng

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Hải – thư ký Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Mộng Đẹp – Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 6 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 50/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 01 năm 2022 về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2022/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Châu Thị M – sinh năm: 1987

Địa chỉ: ấp Phước 3B, xã Vĩnh Phú Đông, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu

Bị đơn: anh Nguyễn Hoàng H – sinh năm: 1984

Địa chỉ: khóm 8, phường Láng Tròn, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu

(Chị My có yêu cầu vắng mặt, anh Hưng vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Nguyên đơn chị Châu Thị M trình bày theo đơn khởi kiện và lời khai:

Về hôn nhân: chị My và anh Hưng sống chung vợ chồng với nhau vào năm 2006, khi về sống chung vợ chồng do tự nguyện có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phong Thạnh Đông A (nay là phường Láng Tròn), thị xã Giá Rai ngày 30/11/2006. Trong cuộc sống chung vợ chồng giữa chị My và anh Hưng có phát sinh nhiều mâu thuẫn từ việc anh Hưng có quan hệ với người khác nên đã ly thân hơn 07 năm. Trong thời gian ly thân gia đình không tổ chức hàn gắn và bản thân chị My và anh Hưng cũng không gặp nhau để hàn hắn hôn nhân.

Nay chị My thấy cuộc sống chung vợ chồng với anh Hưng không thể kéo dài, chị My có yêu cầu được ly hôn với anh Hưng.

Về con chung: chị My và anh Hưng có hai người con chung tên Nguyễn Tuấn Khôi – sinh ngày 02/04/2007 và Nguyễn Tuấn Khoa – sinh năm: 25/10/2008, con chung hiện đang sống chung với anh Hưng từ khi ly thân cho đến nay. Khi ly hôn chị My đồng ý để hai con chung cho anh Hưng nuôi dưỡng và xin miễn cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: chị My không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Hoàng H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, hòa giải, xét xử nhưng anh Hưng vắng mặt không có lý do.

Kiểm sát viên phát biểu:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định của luật tố tụng dân sự; Diễn biến tại phiên tòa thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo luật định, nguyên đơn đã được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với sự vắng mặt của anh Hưng, do anh Hưng đã được Tòa án triệu tập để tham gia hòa giải, xét xử nhiều lần thông qua mẹ anh Hưng, nhưng anh Hưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh Hưng là đúng quy định.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử

- Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng các Điều 51, 56, Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Châu Thị M có yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Hoàng H.

- Về con chung: tiếp tục giao cháu Nguyễn Tuấn Khôi – sinh ngày 02/04/2007 và Nguyễn Tuấn Khoa – sinh năm: 25/10/2008 cho anh Nguyễn Hoàng H được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi hai cháu tròn 18 tuổi.

- Về tài sản: do chị Châu Thị M không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Sau khi nghiên cứu vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

1. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: chị Châu Thị M có yêu cầu khởi kiện được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng H. Anh Hưng có địa chỉ tại khóm 8, phường Láng Tròn, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thị xã Giá Rai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

2. Về tố tụng: Do anh Nguyễn Hoàng H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, chị Châu Thị M có yêu cầu xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Hoàng H và chị Châu Thị M theo quy định.

3. Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: chị My xác định giữa chị My và anh Hưng sống chung vợ chồng với nhau vào năm 2006 trên tinh thần tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phong Thạnh Đông A (nay là phường Láng Tròn), thị xã Giá Rai ngày 30/11/2006. Trong quá trình chung sống, chị My và anh Hưng phát sinh nhiều mâu thuẫn, đời sống hôn nhân không hạnh phúc nên đã ly thân khoảng 07 năm nay. Nay, chị My có yêu cầu xin ly hôn và không có nguyện vọng hàn gắn hôn nhân.

Hội đồng xét xử xét thấy: đời sống chung vợ chồng phải xuất phát từ tình cảm yêu thương giữa các bên, sự quan tâm chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau. Nhưng giữa chị My và anh Hưng có nhiều mâu thuẫn nên đã ly thân nhau hơn 07 năm, trong thời gian ly thân gia hai bên không tổ chức hàn gắn hôn nhân, bản thân chị My và anh Hưng cũng không gặp nhau để hàn gắn hôn nhân. Mặt khác theo mẹ anh Hưng là bà Hoàng Thị Vân xác định giữa anh Hưng và chị My đã ly thân hơn 07 năm và trong thời gian ly thân gia đình hai bên cũng không tổ chức hàn gắn hôn nhân. Quá trình Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành triệu tập anh Hưng để hòa giải hàn gắn hôn nhân cho chị My và anh Hưng, nhưng anh Hưng vẫn vắng mặt không có lý do. Từ đó thấy rằng đời sống chung vợ chồng giữa chị My và anh Hưng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Châu Thị M.

Về con chung: chị My xác định trong thời gian sống chung vợ chồng với anh Hưng, giữa chị My và anh Hưng có hai người con chung tên Nguyễn Tuấn Khôi – sinh ngày 02/04/2007 và Nguyễn Tuấn Khoa – sinh năm: 25/10/2008 hiện đang sống chung với anh Hưng và không có con nuôi. Khi ly hôn chị My có nguyện vọng tiếp tục giao hai con chung cho anh Hưng nuôi dưỡng và xin miễn việc cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, con chung của chị My và anh Hưng hiện tại đang sống với anh Hưng từ khi ly thân cho đến nay và trong thời gian sống chung hai cháu phát triển tốt được đi học ổn định. Nên việc tiếp tục giao hai cháu Nguyễn Tuấn Khôi – sinh ngày 02/04/2007 và Nguyễn Tuấn Khoa – sinh năm: 25/10/2008 cho anh Hưng được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với nguyện vọng của hai cháu nên được chấp nhận.

Về cấp dưỡng: Do anh Hưng vắng mặt nên khi nào anh Hưng có yêu cầu cấp dưỡng sẽ giải quyết thành vụ án khác. Chị My không trực tiếp nuôi con chung nhưng có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Do chị My không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm: chị Châu Thị M phải chịu số tiền 300.000 đồng.

Xét quan điểm cũng như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp và có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về “định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án” của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Châu Thị M và anh Nguyễn Hoàng H.

2. Về con chung: tiếp tục giao cháu Nguyễn Tuấn Khôi – sinh ngày 02/04/2007 và Nguyễn Tuấn Khoa – sinh năm: 25/10/2008 cho anh Nguyễn Hoàng H được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi hai cháu tròn 18 tuổi.

Về cấp dưỡng: Do anh Hưng vắng mặt nên khi nào anh Hưng có yêu cầu cấp dưỡng sẽ giải quyết thành vụ án khác. Chị My không trực tiếp nuôi con chung nhưng có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.

3. Về tài sản: do chị Châu Thị M không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

4. Về án phí: chị Châu Thị M có nghĩa vụ chịu tiền án phí là 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. chị My đã dự nộp 300.000 đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003823 ngày 26 tháng 01 năm 2022, tại Chi cục Thi hành án dân sự Thị xã Giá Rai sẽ được chuyển thu án phí. Anh Nguyễn Hoàng H không phải chịu án phí.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ