vanban.org

Bản án 43/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn Đ và chị Phạm Thị Hồng G.

Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Phạm Chí N, sinh ngày 04/12/2017 cho chị Phạm Thị Hồng G tiếp tục nuôi dưỡng, anh Nguyễn Văn Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con với mức cấp dưỡng là 2 500 000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn đồng một tháng Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày án có hiệu lực pháp luật cho … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn, nuôi con giữa Nguyễn Văn Đ - Phạm Thị Hồng G"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn Đ và chị Phạm Thị Hồng G.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG THÍT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 43/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 14-6-2022
V/v: Ly hôn, nuôi con, cấp dưỡng.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trƣơng Tấn Đồng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Phẩm

2. Ông Huỳnh Văn Thanh

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Mai Phụng, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 14 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 203/2021/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2021. Về việc: Tranh chấp “Xin ly hôn, nuôi con, cấp dưỡng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1985; địa chỉ cư trú Ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).

2. Bị đơn: Chị Phạm Thị Hồng G, sinh năm 1985; địa chỉ cư trú ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 06 tháng 12 năm 2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Văn Đ trình bày: Vào năm 2014, anh và chị G kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện M, tỉnh Vĩnh Long ngày 14 tháng 02 năm 2014. Anh Đ cho rằng sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc Đến năm 2020 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình hai người không hợp nhau dẫn đến thường xuyên gây cãi. Từ đó, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không khắc phục được nên hai người đã ly thân từ đầu năm 2021 đến nay. Anh Đ xác định hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nữa nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị G.

Về nuôi con chung anh Đ xác định anh và chị G có 01 (một) người con chung là cháu Nguyễn Phạm Chí N, sinh ngày 04/12/2017, hiện đang sống với chị G. Khi ly hôn anh Đ tự nguyện đồng ý giao cháu Nguyễn Phạm Chí N cho chị G tiếp tục nuôi dưỡng và anh Đ tự nguyện cấp dưỡng nuôi con với mức cấp dưỡng là 2.500 000 đồng một tháng Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Chí Nguyên đủ 18 tuổi

Về chia tài sản chung và nợ chung tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình anh Đ đã cung cấp cho Tòa án Giấy chứng nhận kết hôn số: 10/2014, Quyển số 01/2013 ngày 14 tháng 02 năm 2014 (bản chính và 01 (một) trích lục khai sinh mang tên Nguyễn Phạm Chí N (bản sao).

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo cho bị đơn chị G biết việc thụ lý vụ án cũng như các yêu cầu của anh Đ Nhưng chị G không có văn bản trả lời, không có yêu cầu phản tố và vắng mặt tại các phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải các ngày 13 tháng 01 năm 2022; ngày 10 tháng 5 năm 2022; phiên tòa ngày 26 tháng 5 năm 2022 và phiên tòa ngày hôm nay Mặc dù đã được tống đạt triệu tập hợp lệ

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Các đương sự tranh chấp ly hôn, về nuôi con và cấp dưỡng là tranh chấp hôn nhân và gia đình; bị đơn chị G có nơi cư trú tại xã L, huyện M, tỉnh Vĩnh Long Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Mang Thít thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự

[1 2] Quá trình tiến hành tố tụng giải quyết vụ án, mặc dù đã được tống đạt triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn chị G đều vắng mặt Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn chị G là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự

Về nội dung:

[2 1] Về hôn nhân: Vào năm 2014, anh Đ và chị G kết hôn Có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện M, tỉnh Vĩnh Long ngày 14 tháng 02 năm 2014 Vì vậy hôn nhân của anh Đ và chị G là hợp pháp

Xét; việc anh Đ cho rằng sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc Nhưng đến năm 2020 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình hai người không hợp nhau dẫn đến thường xuyên gây cãi. Từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trâm trọng, không khắc phục được. Mặc dù đã được gia đình hòa giải nhiều lần để cho hai người đoàn tụ chung sống với nhau nhưng không có kết quả Hơn nữa, hiện nay anh Đ xác định anh không còn tình cảm với chị G và hai người đã sống ly thân từ đầu năm 2021 đến nay, không ai quan tâm đến ai Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa anh Đ và chị G đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được Vì vậy, xét việc anh Đ yêu cầu được ly hôn với chị G là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 9, 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận

Về nuôi con chung: Xét, từ khi anh Đ và chị G ly thân đến nay thì cháu Nguyễn Phạm Chí N do chị G nuôi dưỡng, cháu vẫn sống, phát triển và trưởng thành bình thường Vì vậy, xét việc anh Đ tự nguyện đồng ý giao cháu Nguyễn Phạm Chí N cho chị G tiếp tục nuôi dưỡng và anh Đ tự nguyện cấp dưỡng nuôi con với mức cấp dưỡng là 2 500 000 đồng một tháng Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Chí Nguyên đủ 18 tuổi là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 110 và Điều 116 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.

Về chia tài sản và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xét

Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 9; 51; 56; 81; 82; 83; 110 và Điều 116 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn Đ và chị Phạm Thị Hồng G.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Phạm Chí N, sinh ngày 04/12/2017 cho chị Phạm Thị Hồng G tiếp tục nuôi dưỡng, anh Nguyễn Văn Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con với mức cấp dưỡng là 2 500 000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn đồng một tháng Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Nguyễn Phạm Chí N đủ 18 (mười tám tuổi

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015

Anh Nguyễn Văn Đ có quyền tới lui trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở.

3. Về chia tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết

4. Về án phí: Anh Nguyễn Văn Đ phải chịu số tiền 300 000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm và số tiền 300 000 đồng (ba trăm ngàn đồng án phí cấp dưỡng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300 000 đồng (ba trăm ngàn đồng theo biên lai thu tiền số 0006865 ngày 16 tháng 12 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít, như vậy buộc anh Nguyễn Văn Đ còn phải nộp tiếp số tiền còn lại là 300 000 đồng (ba trăm ngàn đồng .

Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hh án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được qui định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ

Cỡ chữ