vanban.org

Bản án 43/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố không công nhận anh Nguyễn Ngọc N và chị Nguyễn Thị Ngọc C là vợ chồng.

Về con chung: anh N, chị C không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: anh N, chị C không yêu cầu giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "anh Nguyễn Ngọc N yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị Ngọc C"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố không công nhận anh Nguyễn Ngọc N và chị Nguyễn Thị Ngọc C là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HÒA THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 27-5-2022
V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H, TỈNH T

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Ly

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Thanh Phong;

2. Ông Phạm Văn Tài.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Sử Ngọc Quân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh T.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Du – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 37/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: anh Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1970.

Địa chỉ: Số nhà 92, hẻm 26, đường N, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh T, (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: chị Nguyễn Thị Ngọc C, sinh năm 1975.

Địa chỉ: Số nhà 10/9, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh T (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Ngọc N trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị Ngọc C chung sống với nhau vào năm 1997, không đăng ký kết hôn. Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2006 do bất đồng về quan điểm sống, anh chị thường xuyên mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do anh chị không có tiếng nói chung, hay gây gỗ. Anh chị đã ly thân từ năm 2006 cho đến nay.

Về con chung anh chị có 03 người con tên Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1998, Nguyễn Nhất T, sinh năm 1999, Nguyễn Thị Tố N, sinh ngày 06-4-2004. Các con chung đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng anh không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Nguyễn Thị Ngọc C trình bày:

Chị thống nhất theo lời trình bày của anh N về thời gian anh chị sống chung, thừa nhận anh chị có mâu thuẫn như lời anh N trình bày. Anh chị đã ly thân từ năm 2006 cho đến nay. Nay anh N yêu cầu ly hôn với chị, chị đồng ý ly hôn.

Về con chung: anh chị có 03 người con chung tên Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1998, Nguyễn Nhất T, sinh năm 1999, Nguyễn Thị Tố N, sinh ngày 06-4-2004. Các con chung đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký Tòa án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận anh N, chị C là vợ chồng, về con chung, tài sản chung, nợ chung các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không giải quyết.

Anh N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: anh Nguyễn Ngọc N và chị Nguyễn Thị Ngọc C có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại các Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: anh Nguyễn Ngọc N và chị Nguyễn Thị Ngọc C chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1997, nhưng không đăng ký kết hôn. Do không có đăng ký kết hôn nên việc anh N và chị C sống chung là vi phạm quy định tại Điều 9, khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình do đó giữa anh N, chị C không phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Nay anh N yêu cầu ly hôn với chị C, chị C cũng đồng ý ly hôn, tuy nhiên không thể công nhận thuận tình ly hôn cho anh chị do hôn nhân của anh chị không hợp pháp mà cần căn cứ vào Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình không công nhận anh N, chị C là vợ chồng.

Về con chung: anh N, chị C có 03 con chung là Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1998, Nguyễn Nhất T, sinh năm 1999, Nguyễn Thị Tố N, sinh ngày 06-4-2004, hiện các con chung của anh chị đã thành niên tự lao động sinh sống được nên anh N, chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết do đó không đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: anh N, chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không giải quyết vấn đề này.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T là phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 14, 15, 53, 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

1. Tuyên bố không công nhận anh Nguyễn Ngọc N và chị Nguyễn Thị Ngọc C là vợ chồng.

2. Về con chung: anh N, chị C không yêu cầu giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: anh N, chị C không yêu cầu giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: anh N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh N đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0020562 ngày 10 tháng 02 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H, tỉnh T, anh N đã nộp xong án phí.

Án dân sự sơ thẩm xử công khai báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh T trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Tòa án niêm yết bản án tại UBND xã nơi cư trú.

Cỡ chữ