- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Ngô Thị M H về việc yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Ngọc P.
- Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:43/2022/HNGĐ-ST Ngày: 14-6-2022 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H,
TỈNH B
- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị M M.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn T S;
2/ Ông Đặng Văn M.
- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Văn T - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh B.
Ngày 14 tháng 6 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 41/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 01 năm 2022, về việc “Ly hôn”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/4/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2022/QĐST-HNGĐ ngày 25/5/2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Ngô Thị M H – Sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh B.
Bị đơn:
Ông Nguyễn Ngọc P – Sinh năm 1994.
Địa chỉ: Thôn K, xã H, xã Hồng S, huyện H, tỉnh B.
Đương sự có mặt: Bà H; Đương sự vắng mặt: Ông P
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 31/12/2021, bản khai của nguyên đơn bà Ngô Thị M H khai:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Ngọc P cưới nhau vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện H. Việc cưới nhau là do hai bên tự tìm hiểu trong thời gian 02 năm. Sau khi cưới vợ chồng sống chung với gia đình ông tại xã H, huyện H. Vợ chồng sống hạnh phúc khoảng hơn 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông P nhiều lần đánh đập bà, không quan tâm đến bà nên vợ chồng thường xuyên cải nhau. Vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 7/2019 cho đến nay. Bà và ông P không liên lạc với nhau nữa. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và nguyện vọng của bà yêu cầu xin được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc P.
Về con chung: Không có.
Về tài sản và nợ: Không yêu cầu Tòa giải quyết.
Ngoài ra, do ông Nguyễn Ngọc P vắng mặt nên bà yêu cầu Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Nguyễn Ngọc P đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Nguyễn Ngọc P cố tình vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên không thể tiến Hnh hòa giải được. Tòa án lập biên bản không tiến Hnh hòa giải được ghi nhận ý kiến của bên nguyên đơn để làm căn cứ giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn. Đây là tranh chấp về ly hôn. Bị đơn có địa chỉ tại Thôn K, xã H, huyện H, tỉnh B nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh B được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Ngọc P đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Ngọc P cưới nhau vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện H. Đây là hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình. Bà H cho rằng vợ chồng sống hạnh phúc được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn và nguyên nhân mâu thuẫn là do ông P thường xuyên đánh đập bà, không quan tâm đến bà nên dẫn đến cãi vả. Vợ chồng bà không còn chung sống với nhau từ khoảng năm tháng 7/2019 cho đến nay. Nay bà Ngô Thị M H xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và nguyện vọng của bà là yêu cầu xin được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc P.
Từ giai đoạn thụ lý vụ án cho đến khi Tòa án mở phiên tòa, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Nguyễn Ngọc P nhưng ông P cố tình lẫn tránh, vắng mặt không có lý do nên Tòa không tiến Hnh hòa giải vụ án theo quy định của pháp luật được. Việc đó thể hiện ý thức xem thường pháp luật, không thiết tha gì đến hạnh phúc và hôn nhân của mình. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử nhận định quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông P thực tế đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục cuộc sống chung được. Do vậy, yêu cầu được ly hôn của bà Ngô Thị M H là có căn cứ nên chấp nhận.
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà Ngô Thị M H phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.
Ông Nguyễn Ngọc P không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, Khoản 4 Điều 91, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Luật Hôn nhân và gia đình.
Điều 146, Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, Mễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Ngô Thị M H về việc yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Ngọc P.
Bà Ngô Thị M H được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc P.
2. Về án phí:
Bà Ngô Thị M H phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm. bà Ngô Thị M H đã nộp đủ 300.000đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0005876 ngày 26/01/2022 của Chi cục Thi Hnh án dân sự huyện H, tỉnh B nên không nộp nữa.
Ông Nguyễn Ngọc P không chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo :
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14/6/2022), bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa P.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh B; - VKSND huyện H; - Chi cục THADS H; - UBND xã H; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thị M M |