- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ Chín-Phong"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị Ch và anh Đinh Văn Ph.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2022/HNGĐ-ST Ngày 29-3-2022 V/v Ly hôn, nuôi con chung giữa chị Ch và anh Ph” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Ái.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Việt Hùng;
Ông Nguyễn Văn Hóa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sinh - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Hải Hậu.
Ngày 29 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 212/2021/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2021 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2021/QĐST-DS ngày 17 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ch, sinh năm 1995; địa chỉ: Xóm LR, xã HP, huyện HH, tỉnh Nam Định.
Bị đơn: Anh Đinh Văn Ph, sinh năm 1993; địa chỉ: Xóm LR, xã HP, huyện HH, tỉnh Nam Định.
(Chị Ch xin vắng mặt, anh Ph vắng mặt lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 16 tháng 11 năm 2021 và quá trình tham gia tố tụng tại Toà án, nguyên đơn chị Lê Thị Ch trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Ch và anh Đinh Văn Ph đăng ký kết hôn ngày 23/11/2018 tại UBND xã HP, huyện HH, tỉnh Nam Định trên cơ sở tự do tìm hiểu tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn chị Ch và anh Ph thuê nhà ở và làm ăn trên thành phố Hà Nội, đến đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Ph không chung thủy, có quan hệ ngoài luồng với người khác dẫn đến vợ chồng cãi chửi nhau. Do không thể tiếp tục chung sống với anh Ph được nên sau khi phát sinh mâu thuẫn, chị Ch đã phải thuê nhà ra ở riêng; vợ chồng sống ly thân, chấm dứt mọi quan hệ tình cảm, trách nhiệm với nhau. Do xét thấy không còn tình cảm và không thể tiếp tục chung sống với anh Ph nên chị Ch xin được ly hôn anh Ph.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Đinh Ngọc Bảo A, sinh ngày 20/11/2019. Hiện tại cháu Bảo A đang ở với anh Ph và ông bà nội. Khi ly hôn chị Ch nhận nuôi con và không yêu cầu anh Ph phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng: Chị Ch và anh Ph không có nên không đề nghị Toà án giải quyết.
* Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu đã nhiều lần thông báo cho anh Ph đến nhận Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn khác theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh Ph không đến Tòa án làm việc. Thông qua bà Phạm Thị Thơ là mẹ đẻ anh Ph, Toà án nhân dân huyện Hải Hậu đã tống đạt toàn bộ các văn bản tố tụng theo quy định cho bà Thơ nhận thay và cam kết giao, thông báo cho anh Ph. Như vậy anh Ph đã biết Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu đang thụ lý giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình gữa chị Ch và anh Ph nhưng anh Ph không đến Tòa làm việc cũng như không nộp, gửi cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình và các tài liệu, chứng cứ có liên quan. Tại phiên Tòa anh Ph vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Lê thị Ch có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt, anh Đinh Văn Ph đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt chị Ch và anh Ph theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Ch và anh Đinh Văn Ph kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại UBND xã HP, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định ngày 23-11-2018. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Ch và anh Ph là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn, sống ly thân từ đó tới nay. Do xét thấy không còn tình cảm và không thể tiếp tục chung sống với anh Ph nên chị Ch xin ly hôn.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Ch với anh Ph, qua xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn từ đầu năm 2021 và sống ly thân từ đó đến nay nhưng cả chị Ch và anh Ph đều không có biện pháp, hành động nhằm hàn gắn tình cảm và mong muốn cuộc sống chung của hai người tiếp tục tồn tại. Mặt khác, anh Ph đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng đến nay anh Ph không có văn bản ghi ý kiến của mình gửi cho Tòa án và cũng không có mặt tại các buổi làm việc của Tòa án cũng như phiên toà xét xử, đã chứng tỏ anh Ph không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị Ch. Chị Ch vẫn giữ ý kiến xin ly hôn anh Ph và đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ch, cho chị Lê Thị Ch được ly hôn anh Đinh Văn Ph là phù hợp.
Về con chung: Khi ly hôn chị Ch nhận nuôi cháu Đinh Ngọc Bảo A và không yêu cầu anh Ph phải cấp dưỡng nuôi con. Đến nay anh Ph cũng không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng con chung nên cần chấp nhận đề nghị của chị Ch; giao con chung là cháu Đinh Ngọc Bảo Anh cho chị Ch nuôi dưỡng, anh Ph không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị Ch là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản: Chị Lê Thị Ch trình bày vợ chồng không có tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng nên không đề nghị Toà án giải quyết, anh Đinh Văn Ph cũng không có ý kiến về tài sản cũng như nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị Ch phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56 và các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị Ch và anh Đinh Văn Ph.
2. Về nuôi con chung: Giao chị Lê Thị Ch nuôi dưỡng con chung là cháu Đinh Ngọc Bảo A, sinh ngày 20-11-2019 đến tuổi thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản riêng để tự nuôi mình. Anh Ph không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị Ch và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Anh Đinh Văn Ph có trách nhiệm giao con chung cho chị Ch nuôi dưỡng.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Lê Thị Ch phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ tại biên lai số 0005969 ngày 12-10-2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu; chị Ch đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Cấp cho đương sự: (2 bản); - TAND tỉnh Nam Định: (1 bản); - VKSND tỉnh+huyện: (2 bản); - Chi cục THADS huyện: (1 bản); - UBND xã HP: (1 bản); - Lưu hồ sơ: (1 bản); - Lưu văn phòng: (1 bản). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vũ Văn Ái |