vanban.org

Bản án 43/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Tân An, tỉnh Long An Tuyên án 15/08/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC yêu cầu bà Phan Thị Hồng T trả cho Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC số tiền gốc vay là 29.

Buộc bà Phan Thị Hồng T trả cho Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC tiền nợ gốc và tiền lãi là 49.071.674đ. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi thực hiện nghĩa vụ do chậm trả tiền theo quy đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC "Tranh chap hợp đồng vay TS" Phan Thị Hồng Trang"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC yêu cầu bà Phan Thị Hồng T trả cho Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC số tiền gốc vay là 29.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T,
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2022/DS-ST
Ngày: 15-8-2022
Về việc: “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH LONG AN

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Kiều Trinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Long An.

Ngày 15 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Long An xét xử công khai theo thủ tục rút gọn vụ án thụ lý số 190/2022/TLST-DS ngày 13 tháng 7 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2022/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC.

Người đại diện theo pháp luật là ông Lô Bằng G – Chức vụ: Chủ tịch hội đồng thành viên.

Địa chỉ: Tầng H, Tòa nhà Ree T, Số C, đường Đoàn Văn B, Phường M, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Trần Trường G;

Địa chỉ: Tầng M, Tòa nhà Ree T, Số C, đường Đoàn Văn B, Phường M, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Bà Phan Thị Hồng T, sinh năm 1971;

Địa chỉ: A Quốc lộ M, Phường H, thành phố T, tỉnh Long An.

(Ông Trường G có mặt, bà T vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 22/6/2022 của Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC và các lời trình bày của ông Trần Trường G là người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn có nội dung:

Vào ngày 09/9/2019, bà Phan Thị Hồng T có ký hợp đồng tín dụng số 20190911-2983706 với Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (nay là Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC) vay số tiền 31.650.000đ, lãi suất thỏa thuận: 5%/tháng, mục đích: tiêu dùng cá nhân. Theo hợp đồng, bà Trang có nghĩa vụ thanh toán cả gốc và lãi cho Công ty tài chính SMBC trong thời hạn 24 tháng với số tiền 55.989.674đ, trong đó 23 tháng đầu, mỗi tháng bà Trang trả 2.293.704đ, tháng cuối cùng trả số tiền 3.234.482đ. Thời hạn trả bắt đầu từ ngày 16/10/2019.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà T đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho Công ty tài chính SMBC 03 (ba) lần với tổng số tiền đã trả là 6.918.000đ. Kể từ sau ngày 14/12/2019 đến nay, bà Trang không thanh toán thêm bất kỳ khoản nợ nào cho Công ty tài chính SMBC mặc dù đã được nhắc nhở nhiều lần.

Do bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ nên Công ty tài chính SMBC khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Phan Thị Hồng T thanh lý hợp đồng trả một lần cho Công ty tài chính SMBC toàn bộ số tiền nợ bao gồm: Nợ gốc tính đến ngày 16/9/2021 là 29.745.614đ và nợ lãi tính đến ngày 16/9/2021 là 19.326.060đ, tổng cộng là 49.071.674đ.

Bị đơn, bà Phan Thị Hồng T vắng mặt:

Bà T đã được Tòa án thực hiện việc niêm yết, tống đạt triệu tập hợp lệ nhưng bà T không đến theo sự triệu tập của Tòa án, không có văn bản thể hiện ý kiến của bà đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thẩm quyền: Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với bà Phan Thị Hồng T có địa chỉ cư trú tại thành phố T nên căn cứ vào Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Long An.

Về tố tụng: Sau khi xem xét đơn khởi kiện, xét thấy vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ, tài liệu chứng cứ đầy đủ, các đương sự đều có địa chỉ cư trú, trụ sở rõ ràng và không có đương sự ở nước ngoài, đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn. Căn cứ theo Điều 316, Điều 317 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án thụ lý giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn.

Về việc xét xử vắng mặt Bị đơn là bà Phan Thị Hồng T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện việc niêm yết, tống đạt giấy triệu tập bà T đến phiên tòa sơ thẩm nhưng bà T không chấp hành. Hội đồng xét xử xét thấy phiên tòa hôm nay dù vắng mặt đương sự nêu trên nhưng Tòa án đã tiến hành đầy đủ thủ tục tố tụng nên Tòa án xét xử vắng mặt đương sự là đúng theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung tranh chấp: Căn cứ theo “Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” số 20190911-2983706 ngày 09/9/2019 được ký kết giữa Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC và bà Phan Thị Hồng T có chữ ký tên và chữ viết tên Phan Thị Hồng T nên đủ cơ sở để xác định giữa nguyên đơn và bị đơn đã xác lập hợp đồng vay tài sản theo phương thức vay trả góp, mục đích vay tiêu dùng, thời hạn vay là 24 tháng, lãi suất thỏa thuận là 5%/tháng. Hình thức và cách thức trả nợ: Bà T phải trả tổng tiền nợ gốc và tiền lãi là 55.989.674đ trong vòng 24 tháng, cụ thể: 23 tháng đầu, mỗi tháng trả 2.293.704đ, tháng cuối cùng trả 3.234.482đ. Kỳ thanh toán đầu tiên là ngày 16/10/2019. Trong quá trình giao dịch, bà Phan Thị Hồng T đã trả được 03 kỳ với tổng số tiền là 6.918.000đ nhưng kể từ ngày 14/12/2019 cho đến nay thì bà T không trả thêm kỳ nào nên Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC khởi kiện tại Tòa án. Bà T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng bà T không chấp hành theo sự triệu tập của Tòa án, bà T cũng không cung cấp được chứng cứ nào để chứng minh mình đã thực hiện xong nghĩa vụ đối với khoản vay đã ký kết với Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC. Do vậy, có đủ cơ sở buộc bà T phải thực hiện nghĩa vụ trả số tiền nợ gốc là 29.745.614đ và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 15/8/2022 là 19.326.060đ, tổng cộng là 49.071.674đ cho Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự.

Về phương thức thanh toán: Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC yêu cầu bà Phan Thị Hồng T có nghĩa vụ trả tiền vay, bà T không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bà T trả cho Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC số tiền trên sau khi có bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 20190911-2983706 ngày 09/9/2019 thể hiện bà Phan Thị Hồng T phải chịu lãi suất thỏa thuận giữa các bên là 5%/tháng, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn và tiếp tục chịu lãi suất đến thời điểm thanh toán nợ theo mức lãi suất nợ quá hạn tương ứng với số vốn và thời gian chậm trả cho đến khi trả xong số tiền vay. Tuy nhiên, đại diện nguyên đơn xác định không yêu cầu bị đơn tiếp tục trả lãi quá hạn theo hợp đồng tín dụng đã kết thúc từ ngày 16/9/2021 mà chỉ yêu cầu lãi chậm thi hành án theo Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, yêu cầu này của nguyên đơn là có lợi cho bị đơn và không trái quy định pháp luật nên được Tòa án ghi nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà T phải chịu án phí sơ thẩm 1.227.000đ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC không phải chịu án phí do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận. Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã đóng là 1.227.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 316; Điều 317 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 470 Bộ luật dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC yêu cầu bà Phan Thị Hồng T trả cho Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC số tiền gốc vay là 29.745.614đ và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 16/9/2021 là 19.326.060đ, tổng cộng là 49.071.674đ.

Buộc bà Phan Thị Hồng T trả cho Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC tiền nợ gốc và tiền lãi là 49.071.674đ.

2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi thực hiện nghĩa vụ do chậm trả tiền theo quy định tại Khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian còn phải thi hành.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Phan Thị Hồng T phải nộp 1.277.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 1.277.000đ theo biên lai thu số 0001734 ngày 13/7/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Long An.

4. Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. *Nơi nhận:

Cỡ chữ