vanban.org

Bản án 43/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị T đối với bà Bùi Thị Ch.

Buộc bà Bùi Thị Ch có trách nhiệm trả cho bà Bùi Thị T số tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Kể từ ngày người được thi hành án làm đơn yêu cầu thi hành án, mà bên phải thi hành án chưa tự nguyện thi hành án xong, thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo Khoản 2 Điều 468 của … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "hôn nhân gia đinh"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị T đối với bà Bùi Thị Ch.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2022/DS-ST
Ngày: 06/6/2022
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Huỳnh Kim Phượng 2. Bà Nguyễn Thị Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hồ Quế Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long hồ, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Không thuộc trường hợp tham gia phiên tòa.

Hôm nay, ngày 06 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 45/2022/TLST- DS ngày 22 tháng 02 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2022/QĐXX-ST, ngày 19 tháng 5 năm 2022 giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị T, sinh năm 1968, nơi cư trú ấp Phú Thạnh , xã Phú Q, huyện Long H, tỉnh Vĩnh Long (Có mặt)

2. Bị đơn: Bà Bùi Thị Ch, sinh năm 1965, nơi cư trú: ấp Phú Thạnh , xã Phú Q, huyện Long H, tỉnh Vĩnh Long (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/02/2022 của nguyên đơn và trong quá trình xét xử nguyên đơn trình bày:

Khi bà Bùi Thị T và Bà Bùi Thị Út E, ông Bùi Văn Ú biết việc bà Bùi Thị Ch ( bà Tối, bà Út E, ông Ú đều là em ruột của bà Bùi Thị Ch) muốn bán căn nhà bà Ch đang ở để trả nợ thì bà T và ông Bùi Văn Ú, bà Bùi Thị Út E mới bàn với nhau là bà T sẽ xuất tiền cho bà Ch mượn một số tiền để xây sở, để bà Ch không bán căn nhà bà Ch đang ở vì bán nhà sau này bà Ch không có chổ ở nên ngày 05/8/2017 bà T mới nhờ ông Lê Minh H (Ông H sống chung như vợ chồng với bà Ch gần 10 năm nay nhưng ông H đã chết cách đây 3-4 năm) viết giấy thế chấp có nội dung như sau: “Ngày 05/8/2017 bà Bùi Thị Ch mượn của em tôi là Bùi Thị T số tiền 20.000.000 đồng ( Hai mươi triệu), trong đó thế chấp cái nhà tôi đang ở với lãi suất 3% tháng…… nếu trong 24 tháng tôi chưa trả được nợ gốc thì lãi suất tăng gấp đôi”. Viết xong ông H có tự ký tên “Ch” nhưng bà T không đồng ý nên bà có kêu bà Ch phải tự tay ký tên nên bà Ch tự tay ký tên : “Ch” nên chổ người vay có hai chữ ký tên “Ch”, chữ ký tên “Ch” phía ngoài cùng của trang giấy là chữ ký của bà Ch. Sự việc này có ông Bùi Văn Ú làm chứng. Sau khi ký tên xong bà T giao tiền cho bà Ch nhận 20 triệu đồng tại nhà của bà T. Khi giao tiền cho bà Ch thì có bà Bùi Thị Út E (Em ruột bà T, bà Ch) chứng kiến. Mục đích viết giấy thế chấp nhà là để bà Ch không bán nhà cho người khác.

Đến ngày trả tiền thì bà Ch không trả tiền vốn, lãi cho bà T. Bà T nhiều lần yêu cầu bà Ch trả nợ nhưng bà Ch không trả cho bà T. Bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Bùi Thị Ch trả cho bà Bùi Thị T số tiền nợ vốn gốc 20 triệu đồng. Tiền lãi tính từ ngày 05/8/2017 đến ngày 20/02/2022 là 53 tháng, lãi suất 1.67%/ tháng bằng số tiền 17.925.000đồng. Đồng thời bà T yêu cầu tiếp tục tính lãi đến ngày xét xử sơ thẩm.

* Ý kiến trình bày của bà Bùi Thị Ch: Bà Ch không thừa nhận có nợ bà T số tiền 20 triệu đồng như bà Tối yêu cầu. Giấy thế chấp ngày 05/8/2017 bà không biết không có ký tên. Bà Chiều không yêu cầu giám định chữ ký của bà trong giấy thế chấp ngày 05/8/2017.

* Ý kiến ông Bùi Văn Út: Ông là em ruột của bà Tối và bà Chiều. Sự việc bà Ch mượn tiền của bà T là có vì trước khi bà T cho bà Ch mượn tiền thì bà T và ông có bàn bạc với nhau vì sợ bà Ch bán nhà không có chổ ở sau này nên ông mới nói với bà T cho bà Ch mượn tiền xây sở. Ông có nói với bà T ông sẽ làm nhân chứng sự việc này nên sau khi làm giấy tờ xong phía bà T có đưa ông ký tên vào giấy thế chấp khi đó thì ông thấy có chữ ký của bà T và bà Ch xong. Còn tiền thì ông nghe bà T nói giao bà Ch rồi, vì ông sống ở tỉnh Đồng Tháp nên khi về thăm nhà mới ký tên được nên ông ký tên sau, chứ sự việc ông biết bà Ch mượn tiền bà T là đúng. Ông cam đoan lời trình bày của ông là đúng sự thật. Ông Ú xin vắng mặt tại Tòa án.

* Ý kiến trình bày của bà Bùi Thị Út E: Bà Út E là em ruột của bà T và bà Ch. Sự việc bà Ch mượn tiền của bà T là có vì trước khi bà T cho bà Ch mượn tiền thì bà Út E, bà T và ông Ú có bàn bạc với nhau là bà T cho bà Ch mượn một số tiền để xây sở vì sợ bà Ch bán nhà không có chổ ở sau này. Lúc đầu, bà T không đồng ý vì cho rằng bà Ch ngang ngược sợ sau này bà Ch không trả tiền nên bà T mới nhờ ông Lê Minh H viết giấy thế chấp dùm và để bà Ch không bán căn nhà đang ở nên mới ghi trong giấy thế chấp là bà Ch thế chấp căn nhà đang ở. Khoảng 5-6 giờ chiều ngày 05/8/2017 thì bà Út Em có thấy bà T giao số tiền 20 triệu đồng cho bà Ch nhận tại nhà của bà T. Khi đó, bà Út E về nhà chơi và ở lại nhà của bà T nên mới chứng kiến sự việc. Sự việc bà T cho bà Ch mượn tiền là do bà Út E và ông Ú khuyên bà T nghỉ tình chị em cho bà Ch mượn tiền chứ lúc đầu bà T không đồng ý cho mượn. Khi mượn tiền xong thấy bà Ch khó khăn nên bà T không có đòi, đến khi thấy lâu quá bà Ch không trả thì bà T mới hỏi, bà Ch nói ngược không thiếu tiền bà T nên mới phát sinh tranh chấp. Bà cam đoan lời trình bày của bà là đúng sự thật. Bà Út E xin vắng mặt tại Tòa án.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn bà T vẫn giữ yêu cầu khởi kiện yêu cầu bà Bùi Thị Ch có trách nhiệm trả cho bà T số tiền vốn gốc là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Tiền lãi suất bà T xin rút lại yêu cầu này vì hiện tại hoàn cảnh kinh tế bà Ch khó khăn, việc cho mượn tiền làm giấy thế chấp nhà là để cho bà Ch không bán nhà chứ từ trước giờ bà Ch vẫn quản lý, sử dụng căn nhà của bà Ch. Bà T xác định chỉ yêu cầu bà Ch trả số tiền vốn gốc là 20 triệu đồng là tất nợ.

- Ý kiến bị đơn bà Bùi Thị T: Bà Ch không thừa nhận có nợ bà T số tiền 20 triệu đồng như bà T yêu cầu. Việc bà Út E và ông Ú làm nhân chứng nói bà có mượn tiền bà T là vu khống bà Ch. Giấy thế chấp ngày 05/8/2017 bà không biết không có ký tên, do bà không có tiền để giám định chữ ký nên bà không yêu cầu Tòa án tiến hành trưng cầu giám định chữ ký của bà Ch.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Bùi Thị T có đơn khởi kiện bà Bùi Thị Ch, sinh năm 1965 nơi cư trú ấp Phú Thạnh , xã Phú Q, huyện Long H, tỉnh Vĩnh Long yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Ch trả số tiền vay vốn gốc 20 triệu đồng theo giấy thế chấp ngày 05/8/2017. Do đó, căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long H, tỉnh Vĩnh Long.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà T yêu cầu bà Bùi Thị Ch phải trả cho bà T số tiền vay vốn gốc là 20 triệu đồng theo giấy thế chấp ngày 05/8/2017. Căn cứ giấy thế chấp ngày 05/8/2017 có nội dung bà Ch mượn của bà T số tiền 20 triệu đồng và có thỏa thuận lãi suất, thời gian trả tiền nên căn cứ Điều 463 Bộ luật dân sự đây là hợp đồng vay tài sản, Giấy thế chấp ngày 05/8/2017 có chữ ký tên xác nhận của bà Ch nên bà Ch phải có trách nhiệm trả lại số tiền đã vay cho bà T là có căn cứ, việc bà Ch cho rằng bà không biết không có ký tên giấy thế chấp ngày 05/8/2017 thì ngoài lời trình bày của bà ra thì bà Ch hoàn toàn không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh, cũng như tại phiên tòa hôm nay không được phía bà T thừa nhận nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét cho bà. Mặt khác, sự việc này cũng được ông Bùi Văn Ú và bà Bùi Thị Út E xác định việc bà T có cho bà Ch vay số tiền 20 triệu đồng là đúng, ngoài ra bà Út E còn chứng kiến việc bà T giao số tiền 20 triệu đồng cho bà Ch nhận tại nhà bà T, cho nên bà Ch phải có trách nhiệm trả lại số tiền vay vốn gốc 20 triệu đồng cho bà T là có căn cứ chấp nhận.

Xét việc tại phiên tòa phía nguyên đơn bà T rút lại yêu cầu bà Ch trả số tiền lãi suất là 17.925.000 đồng (tính từ ngày 05/8/2017 đến tháng 2 năm 2022 là 53 tháng lãi suất 1,67%/tháng), việc rút yêu cầu này của bà T là hoàn toàn tự nguyên, không trái với quy định pháp luật, không trái đạo đức xã hội và có lợi cho phía bị đơn bà Ch nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Bùi Thị Ch phải nộp án phí là 20.000.000đồng x 5% = 1.000.000đồng. Bà T không phải nộp án phí nên hoàn lại số tiền tạm ứng án phí cho bà Tối.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147 và Khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ các Điều 463, 466, 468 và Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị T đối với bà Bùi Thị Ch.

Buộc bà Bùi Thị Ch có trách nhiệm trả cho bà Bùi Thị T số tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án làm đơn yêu cầu thi hành án, mà bên phải thi hành án chưa tự nguyện thi hành án xong, thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo Khoản 2 Điều 468 của Bộ Luật dân sự năm 2015.

- Đình chỉ một phần yêu cầu của bà Bùi Thị T đối với bà Bùi Thị Ch về việc trả tiền lãi suất trên số vốn gốc là 20 triệu đồng.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

2.1. Buộc bà Bùi Thị Ch phải nộp số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

2.2. Hoàn trả cho bà Bùi Thị T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 948.000 đồng (Chín trăm bốn mươi tám nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003645 ngày 22/02/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6,7, 7a,7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Án xử công khai nguyên đơn, bị đơn có mặt có tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ