vanban.org

Bản án 43/2021/HSST — Hình sự

TAND TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre Tuyên án 21/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Minh H phạm t i “Mua bán trái phép chất ma t y”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Minh H 07 (bảy) năm tù. Th i hạn tù tính từ ngày 04/02/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Minh H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Minh H phạm t i “Mua bán trái phép chất ma t y”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẾN TRE
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2021/HSST
Ngày: 21/6/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Văn Trình.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Minh Thiện;

2. Bà Trần Ngọc Diệp.

-Thƣ ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Yến là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà: Ông Phan Thanh Vàng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 37/2021/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2021, đối với bị cáo:

Huỳnh Minh H, sinh năm 1983 tại tỉnh Bến Tre; Nơi đăng ký h khẩu thư ng tr : Ấp KHĐ, xã TT, huyện CT, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình đ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân t c: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Huỳnh Văn H1, sinh năm 1939 và bà Hồ Thị C, sinh năm 1948; Vợ: Trần Thị T, sinh năm 1983; Con: Có 01 ngư i con sinh năm 2013; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/02/2021, đến ngày 07/02/2021 chuyển tạm giam cho đến nay. (Có mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bùi Thanh P, sinh năm 1987;

Nơi cư tr : Ấp CC, xã MT, huyện GT, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)

* Người làm chứng:

- Thạch Minh C1, sinh năm 1988;

Nơi cư tr : Ấp GT, xã NX, huyện TC, tỉnh Trà Vinh. (Vắng mặt)

- Nguyễn Thị L, sinh năm 1987;

Nơi cư tr : Khu phố BL, Phư ng F, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào l c 01 gi 15 ph t ngày 04/02/2021, tại New Club Co. LTD ở ấp 1, xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, lực lượng Cảnh sát điều tra t i phạm về ma t y Công an tỉnh Bến Tre phối hợp lực lượng Cảnh sát điều tra t i phạm về ma t y Công an thành phố Bến Tre bắt quả tang bị cáo Huỳnh Minh H có hành vi bán trái phép chất ma t y cho Bùi Thanh P nên tiến hành lập biên bản bắt ngư i phạm t i quả tang đối với bị cáo H, P và thu giữ tang vật.

Vật chứng thu giữ:

Thu của bị cáo H:

- Thu trong mảnh giấy màu trắng nằm trên áo khoát cách vị trí bị cáo H ngồi trên ghế salon của bàn Vip 6 của quán New Club Co. LTD 22cm: 01 gói nylon màu trắng, hàn kín ba phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu xanh, kích thước 2,5cm x 2cm, bên trong có chứa chất màu trắng nghi là ma t y (sau khi thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1).

- Thu trong t i quần phía sau bên trái của bị cáo H đang mặc: Tiền Việt Nam gồm 02 t polyme mệnh giá mỗi t 500.000 đồng (sau khi thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu T) và 01 sấp tiền Việt Nam tổng c ng 2.270.000 đồng.

- Thu trong t i quần phía trước bên trái của bị cáo H đang mặc: Tiền Việt Nam là 200.000 đồng.

- 01 điện thoại di đ ng nhãn hiệu SAMSUNG, màu đen, số IMEI 1: 353317099438914/01, số IMEI 2: 353318099438912/01, chứa sim số: 0933584548 và 0915181158 (sau khi thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu Đ1).

Thu của Bùi Thanh P:

- Thu trong mảnh giấy màu trắng nằm trong t i quần phía trước bên phải của P đang mặc: 01 gói nylon màu trắng, hàn kín ba phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu xanh, kích thước 2,5cm x 2cm, bên trong có chứa chất màu trắng nghi là ma t y (Sau khi thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2).

- 01 điện thoại di đ ng nhãn hiệu NOKIA, màu xám – đen, chứa sim số 0703209331, số IMEI 353781/04/423805/6 (sau khi thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu Đ2).

Qua làm việc, bị cáo H khai nhận: Vào khoảng giữa năm 2018, bị cáo làm thuê cho quán New Club Co. LTD ở ấp 1, xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre với nhiệm vụ được phân công là quản lý quán. Đến đầu tháng 01/2021, bị cáo nảy sinh ý định bán ma t y để kiếm tiền tiêu xài. Để thực hiện ý định, bị cáo nhiều lần gặp và mua ma t y của m t ngư i thanh niên tên B (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) để bán lại kiếm l i. Lần gần nhất, bị cáo mua ma t y của B là khoảng cuối tháng 01/ 2021, bị cáo mua 06 chấm ma t y dạng khây và 05 viên ma t y dạng thuốc lắc với giá 4.250.000 đồng. Sau khi mua ma t y của B, bị cáo đã bán ma t y cho nhiều ngư i tại quán New Club Co. LTD (là khách đến chơi, không rõ họ tên và địa chỉ) tổng c ng 02 chấm ma t y dạng khây và 03 viên ma t y dạng thuốc lắc. Vào khoảng 22 gi 30 ph t ngày 03/02/2021, Bùi Thanh P điện thoại cho bị cáo đặt bàn tại quán New Club để Phong đến chơi thì bị cáo đồng ý. Sau đó, P rủ Thạch Minh C1 và Nguyễn Thị L cùng đến quán New Club. Khi đến, bị cáo sắp xếp cho P, C1 và L ngồi ở bàn Vip 6. Tại đây, P hỏi mua và bị cáo đã bán cho P m t chấm ma t y dạng khây với giá 1.000.000 đồng để P cùng C1 sử dụng. Đến khoảng 00 gi 40 ph t ngày 04/02/2021, do đã sử dụng hết ma t y nên P tiếp tục kêu bị cáo bán 02 chấm ma t y khây thì bị cáo đồng ý và kêu P đợi m t l c. Khoảng 15 ph t sau, bị cáo cầm 02 chấm ma t y khây (được đựng trong 02 gói nylon hàn kín) đến gặp P nhưng do không đủ tiền nên P chỉ mua 01 chấm khây, bị cáo bán cho P 01 chấm khây với giá 1.000.000 đồng (được đựng 01 gói nylon màu trắng hàn kín ba phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu xanh, gói nylon này được quấn lại bằng giấy màu trắng). Khi P cất giấu chấm ma t y dạng khây vừa mua được vào t i quần phía trước bên phải của P đang mặc, còn bị cáo vừa cất tiền bán ma t y có được vào trong t i quần phía sau bên trái của bị cáo đang mặc và trên tay đang cầm 01 chấm ma t y khây còn lại thì lực lượng Công an ập vào bắt quả tang. Do l c Công an ập vào, bị cáo hoảng sợ nên làm rơi gói ma t y xuống áo khoát để trên ghế salon gần chỗ bị cáo ngồi. Ngoài ra, trước đó vào khoảng 22 gi ngày 30/01/2021, cũng tại bàn Vip 6 của quán New Club, bị cáo đã bán cho P 01 chấm ma t y dạng khây và 02 viên ma t y dạng thuốc lắc thu được 1.600.000 đồng.

Theo kết luận giám định số 13/2021/GĐMT ngày 05/02/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre kết luận:

- Chất màu trắng đựng trong 01 t i nylon được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1 gửi giám định là ma t y; loại Ketamine; khối lượng 0,3958 gam.

- Chất màu trắng đựng trong 01 t i nylon được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2 gửi giám định là ma t y; loại Ketamine; khối lượng 0,1600 gam.

Tại Bản cáo trạng số 38/CT-VKSTPBT ngày 18 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo H về t i “Mua bán trái phép chất ma t y” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 B luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị:

- Về t i danh và hình phạt chính: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 B luật Hình sự: xử phạt bị cáo H từ 07 năm đến 08 năm tù về t i “Mua bán trái phép chất ma t y”.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng do bị cáo không có thu nhập ổn định.

- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng các Điều 47, 48 B luật Hình sự; Điều 106 B luật tố tụng Hình sự:

+ Tịch thu, tiêu hủy: Chất ma t y còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 13/2021 có chữ ký ghi tên Phan Trung Trực, Bùi Thị Ngọc Hân, Phan Nghĩa Thạnh và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre, do đây là vật Nhà nước cấm lưu hành; 01 sim số 0915181158 thu của bị cáo H do bị cáo dùng liên hệ mua bán ma t y; 01 sim số 0703209331 thu của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan P do P dùng liên hệ với bị cáo H để mua ma t y.

+ Tịch thu, n p ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di đ ng nhãn hiệu SAMSUNG, màu đen, số IMEI 1: 353317099438914/01, số IMEI 2: 353318099438912/01 thu của bị cáo H do bị cáo dùng liên hệ mua bán ma t y; 01 điện thoại di đ ng nhãn hiệu NOKIA, màu xám – đen, số IMEI 353781/04/423805/6 thu của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan P do P dùng liên hệ với bị cáo H để mua ma t y; số tiền 2.000.000 đồng trong tổng số 3.470.000 đồng thu của bị cáo H do bán ma t y cho P có được vào ngày 04/02/2021.

+ Bu c bị cáo H tiếp tục n p số tiền 1.600.000 đồng do bán ma t y cho P có được vào ngày 30/01/2021.

+ Tiếp tục tạm giữ số tiền còn lại là 1.470.000 đồng thu của bị cáo H để đảm bảo thi hành án.

+ Trả cho bị cáo H 01 sim số 0933584548 thu của bị cáo H do không liên quan đến vụ án.

- Đối với các lần bị cáo H khai bán ma t y cho khách đến chơi tại quán, do hiện tại chỉ có duy nhất l i khai của bị cáo H nên không đủ căn cứ tính thêm trách nhiệm hình sự cho bị cáo đối với các lần bán ma t y này.

- Đối với Bùi Thanh P mặc dù có hành vi tàng trữ trái phép 0,1600 gam ma t y loại Ketamine để sử dụng nhưng chưa đủ khối lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, trong khi P chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều 249 B luật Hình sự cũng như chưa bị kết án về t i “Tàng trữ trái phép chất ma t y” hoặc các t i quy định tại các Điều 248, 250, 251 và 252 của B luật Hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre ra quyết định xử phạt hành chính đối với P là phù hợp.

- Đối với đối tượng tên B do không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre không làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

Bị cáo H khai nhận: Vào khoảng giữa năm 2018, bị cáo làm thuê cho quán New Club Co. LTD ở ấp 1, xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre với nhiệm vụ được phân công là quản lý quán. Đến đầu tháng 01/2021, bị cáo nảy sinh ý định bán ma t y để kiếm tiền tiêu xài. Để thực hiện ý định, bị cáo nhiều lần gặp và mua ma t y của m t ngư i thanh niên tên B (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) để bán lại kiếm l i. Lần gần nhất, bị cáo mua ma t y của B là khoảng cuối tháng 01/ 2021, bị cáo mua 06 chấm ma t y dạng khây và 05 viên ma t y dạng thuốc lắc với giá 4.250.000 đồng. Sau khi mua ma t y của B, bị cáo đã bán ma t y cho nhiều ngư i tại quán New Club Co. LTD (là khách đến chơi, không rõ họ tên và địa chỉ) tổng c ng 02 chấm ma t y dạng khây và 03 viên ma t y dạng thuốc lắc. Vào khoảng 22 gi 30 ph t ngày 03/02/2021, Bùi Thanh P điện thoại cho bị cáo đặt bàn tại quán New Club để P đến chơi thì bị cáo đồng ý. Sau đó, P rủ Thạch Minh C1 và Nguyễn Thị L cùng đến quán New Club. Khi đến, bị cáo sắp xếp cho P, C1 và L ngồi ở bàn Vip 6. Tại đây, P hỏi mua và bị cáo đã bán cho P m t chấm ma t y dạng khây với giá 1.000.000 đồng để P cùng C1 sử dụng. Đến khoảng 00 gi 40 ph t ngày 04/02/2021, do đã sử dụng hết ma t y nên P tiếp tục kêu bị cáo bán 02 chấm ma t y khây thì bị cáo đồng ý và kêu P đợi m t l c. Khoảng 15 ph t sau, bị cáo cầm 02 chấm ma t y khây (được đựng trong 02 gói nylon hàn kín) đến gặp P nhưng do không đủ tiền nên P chỉ mua 01 chấm khây, bị cáo bán cho P 01 chấm khây với giá 1.000.000 đồng (được đựng 01 gói nylon màu trắng hàn kín ba phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu xanh, gói nylon này được quấn lại bằng giấy màu trắng). Khi P cất giấu chấm ma t y dạng khây vừa mua được vào t i quần phía trước bên phải của P đang mặc, còn bị cáo vừa cất tiền bán ma t y có được vào trong t i quần phía sau bên trái của bị cáo đang mặc và trên tay đang cầm 01 chấm ma t y khây còn lại thì lực lượng Công an ập vào bắt quả tang. Do l c Công an ập vào, bị cáo hoảng sợ nên làm rơi gói ma t y xuống áo khoát để trên ghế salon gần chỗ bị cáo ngồi. Ngoài ra, trước đó vào khoảng 22 gi ngày 30/01/2021, cũng tại bàn Vip 6 của quán New Club, bị cáo đã bán cho P 01 chấm ma t y dạng khây và 02 viên ma t y dạng thuốc lắc thu được 1.600.000 đồng. Bị cáo đồng ý với kết luận giám định, không khiếu nại gì đối với các hành vi và quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thành phố Bến Tre, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của B luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những ngư i tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Việc vắng mặt của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và ngư i làm chứng, bị cáo H không có ý kiến, Viện kiểm sát đề nghị xét xử vắng mặt những ngư i này. Xét thấy việc vắng mặt của những ngư i này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên H i đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những ngư i này là phù hợp theo quy định tại Điều 292, Điều 293 B luật tố tụng hình sự.

L i khai nhận của bị cáo phù hợp biên bản bắt ngư i phạm t i quả tang ngày 04/02/2021, kết quả giám định, đối chất, kết quả thực nghiệm điều tra, l i khai của những ngư i làm chứng, cùng các tài liệu khác thu thập được trong quá trình điều tra, có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng th i gian từ ngày 30/01/2021 đến ngày 04/02/2021, tại quán New Club Co. LTD, ấp 1, xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, bị cáo H đã có hành vi 03 lần bán trái phép 03 chấm ma t y dạng khây và 02 viên ma t y dạng thuốc lắc cho Bùi Thanh P thu được 3.600.000 đồng. Trong đó, lần vào khoảng 01 gi 15 ph t ngày 04/02/2021, khi bị cáo H vừa bán cho P 0,1600 gam ma t y, loại Ketamine để P sử dụng thu được 1.000.000 đồng và bị cáo H đang cất giấu 0,3958 gam ma t y, loại Ketamine để bán lại cho ngư i khác nhưng chưa kịp bán thì bị lực lượng Công an phát hiện.

Bị cáo H là ngư i có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận biết được các chất ma t y bị pháp luật cấm mua bán nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích kiếm l i. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo H về t i “Mua bán trái phép chất ma t y” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 B luật Hình sự là có căn cứ, đ ng pháp luật.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước đối với các chất ma t y, đe dọa xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và sự phát triển bình thư ng của con ngư i, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã h i nơi các bị cáo cư tr và thực hiện t i phạm. Hành vi phạm t i của bị cáo là nguyên nhân dẫn đến những t i phạm và tệ nạn xã h i khác, gây tâm lý bất an trong quần ch ng nhân dân.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân, bị cáo H chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo H được hưởng là khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nghĩa vụ nuôi con chưa thành niên và gia đình có công với cách mạng theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 B luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức đ hậu quả do bị cáo gây ra, việc cách ly bị cáo ra khỏi xã h i m t th i gian là điều cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã h i và có tác dụng phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo H không có thu nhập và nghề nghiệp ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy: Chất ma t y còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 13/2021 có chữ ký ghi tên Phan Trung Trực, Bùi Thị Ngọc Hân, Phan Nghĩa Thạnh và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre, do đây là vật Nhà nước cấm lưu hành; 01 sim số 0915181158 thu của bị cáo H do bị cáo dùng liên hệ mua bán ma t y; 01 sim số 0703209331 thu của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan P do P dùng liên hệ với bị cáo H để mua ma t y.

- Tịch thu, n p ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di đ ng nhãn hiệu SAMSUNG, màu đen, số IMEI 1: 353317099438914/01, số IMEI 2: 353318099438912/01 thu của bị cáo H do bị cáo dùng liên hệ mua bán ma t y; 01 điện thoại di đ ng nhãn hiệu NOKIA, màu xám – đen, số IMEI 353781/04/423805/6 thu của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan P do P dùng liên hệ với bị cáo H để mua ma t y; số tiền 2.000.000 đồng trong tổng số 3.470.000 đồng thu của bị cáo H do bán ma t y cho P có được vào ngày 04/02/2021.

- Bu c bị cáo H tiếp tục n p số tiền 1.600.000 đồng do bán ma t y cho P có được vào ngày 30/01/2021 để tịch thu, n p ngân sách nhà nước.

- Tiếp tục tạm giữ số tiền còn lại là 1.470.000 đồng thu của bị cáo H để đảm bảo thi hành án.

- Trả cho bị cáo H 01 sim số 0933584548 thu của bị cáo H do không liên quan đến vụ án.

Đối với các lần bị cáo H khai bán ma t y cho khách đến chơi tại quán, do hiện tại chỉ có duy nhất l i khai của bị cáo H nên không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo đối với các lần bán ma t y này.

Đối với Bùi Thanh P mặc dù có hành vi tàng trữ trái phép 0,1600 gam ma t y loại Ketamine để sử dụng nhưng chưa đủ khối lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, trong khi P chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều 249 B luật Hình sự cũng như chưa bị kết án về t i “Tàng trữ trái phép chất ma t y” hoặc các t i quy định tại các Điều 248, 250, 251 và 252 của B luật Hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre ra quyết định xử phạt hành chính đối với P là phù hợp.

Đối với đối tượng tên B do không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre không làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

L i phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa về t i danh; điều luật áp dụng; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định nên được H i đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Minh H phạm t i “Mua bán trái phép chất ma t y”.

1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 B luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Huỳnh Minh H 07 (bảy) năm tù.

Th i hạn tù tính từ ngày 04/02/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 47, 48 B luật Hình sự; Điều 106 B luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy: Chất ma t y còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 13/2021 có chữ ký ghi tên Phan Trung Trực, Bùi Thị Ngọc Hân, Phan Nghĩa Thạnh và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre; 01 (m t) sim số 0915181158 thu của bị cáo Huỳnh Minh H; 01 (m t) sim số 0703209331 thu của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Thanh P.

- Tịch thu, n p ngân sách Nhà nước: 01 (m t) điện thoại di đ ng nhãn hiệu Sam sung, màu đen, số IMEI 1: 353317099438914/01, số IMEI 2: 353318099438912/01 thu của bị cáo Huỳnh Minh H; 01 (m t) điện thoại di đ ng nhãn hiệu NOKIA, màu xám – đen, số IMEI 353781/04/423805/6 thu của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Thanh P; số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng trong tổng số 3.470.000 (ba triệu bốn trăm bảy mươi ngàn) đồng thu của bị cáo Huỳnh Minh H.

- Bu c bị cáo Huỳnh Minh H tiếp tục n p số tiền 1.600.000 (m t triệu sáu trăm ngàn) đồng do phạm t i mà có để tịch thu, n p ngân sách nhà nước.

- Tiếp tục tạm giữ số tiền còn lại là 1.470.000 (m t triệu bốn trăm bảy mươi ngàn) đồng thu của bị cáo Huỳnh Minh H để đảm bảo thi hành án.

- Trả cho bị cáo Huỳnh Minh H 01 (m t) sim số 0933584548.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/6/2021, hiện Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bến Tre đang quản lý).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 B luật tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc h i về án phí, lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Huỳnh Minh H phải n p là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong th i hạn 15 (mư i lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ