vanban.org

Bản án 43/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 14/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Duy T phạm tội: Đánh bạc;

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Duy T: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo được tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh nhận được bản án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Duy T phạm tội: Đánh bạc;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VŨNG LIÊM
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2021/HS-ST
Ngày: 14-7-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Quốc Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Chí Trình

Ông Huỳnh Văn Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trúc – Thư ký TAND huyện Vũng Liêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2021/TLST-HS, ngày 03 tháng 6 năm 2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2021/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2021, đối với bị cáo:

Huỳnh Duy T, sinh năm 1988; giới tính: Nam; nơi cư trú: ấp số 4, xã M, huyện C, tỉnh T; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: làm ruộng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Huỳnh Văn T (chết) và bà Nguyễn Thị Bé N, sinh năm 1965; vợ Bùi Thị M (đã ly hôn); em ruột 01 người sinh năm 2000; tiền án: không; tiền sự: 01 lần. Ngày 26/5/2020, bị Công an xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh ra quyết định xử phạt hành chính với số tiền là 1.500.000đ, về hành vi đánh bạc. Đã nộp phạt xong; nhân thân: Ngày 26/9/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh xử phạt tiền 15.000.000đ, về tội đánh bạc. Đã nộp phạt xong ngày 14/11/2018; Bị cáo được cho tại ngoại và hiện có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo có ông Nguyễn Văn Diệu, luật sư thuộc Văn phòng luật sư Năm Giờ, Đoàn luật sư tỉnh Vĩnh Long.

- Người làm chứng:

1. Phan Văn K, sinh năm 1956 (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp số 3, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

2. Đoàn Chí H (Tí hon), sinh năm 1983 (có mặt)

Nơi cư trú: ấp T1, xã T, huyện V, Vĩnh Long.

3. Trầm Trúc L, sinh năm 1980 (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp Đ, xã M, huyện C, Trà Vinh.

4. Võ Văn K, sinh năm 1984 (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp K, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

5. Nguyễn Thị L1, sinh năm 1984 (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp số 4, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

6. Huỳnh Phong V, sinh năm 1988 (có mặt)

Nơi cư trú: ấp T1, xã, huyện V, Vĩnh Long.

7. Nguyễn Khắc D, sinh năm 1984 (có mặt)

Nơi cư trú: ấp X, xã T, huyện V, Vĩnh Long.

8. Đặng Minh N, sinh năm 1973 (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, Vĩnh Long.

9. Bùi Văn L2, sinh năm 1965 (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp V, xã, huyện T, Vĩnh Long.

10. Lê Văn C, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp T2, xã T, huyện V, Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ ngày 01/02/2021, Đặng Văn K điện thoại cho Huỳnh Duy T và Trầm Trúc L để hỏi có gà chạng 03kg không, để đem vào vườn nhà của chị Võ Thị L3 ở ấp K, xã T, huyện V, để đá thắng thua bằng tiền, T và L đồng ý. Khoảng 11 giờ cùng ngày, K đem 01 cân đồng hồ loại 05 kg và băng keo đến sân vườn nhà chị L3; Tính đến mang theo con gà trống nòi có lông màu trắng (gà bướm); L đi với người đàn ông tên U (không rõ họ tên và địa chỉ) và đem theo một con gà trống nòi có lông màu đỏ (gà điều). Sau khi cân trọng lượng 02 con gà là 3,1kg, T và L đồng ý đá đồng. Độ gà hai bên thống nhất đá trong sổ với số tiền là 600.000đ và xác gà là 200.000đ. Lúc này, tại sân vườn có: Trần Mộng L, Lê Thị Kim N, Đặng Minh N, Võ Văn L, Võ Văn N, Phan Văn P, Trần Thanh T, Trần Thanh T, Đoàn Văn C, Huỳnh Duy T, Lê Văn H, Đoàn Chí H. Phan Văn P tham gia bên gà của T đá gà ngoài sổ số tiền là 100.000đ với một người đàn ông không rõ họ tên và địa chỉ. Sau khi trồng cựa gà xong, Đoàn Chí H đứng ra làm trọng tài đếm “1,2,3” thì hai bên thả gà. Trong lúc hai con gà đá chưa phân thắng thua thì bị lực lượng Công an huyện Vũng Liêm phát hiện và bắt quả tang.

Tang vật thu giữ gồm: 80 cuộn băng keo; 01 cân đồng hồ loại 05 kg hiệu Nhơn Hòa; 01 dụng cụ lắc tài xỉu; 01 xe mô tô biển số 84F1-143.18; tiền Việt Nam 1.150.000đ (Một triệu một trăm năm mươi ngàn đồng), trong đó: Tiền của T nộp là 800.000đ; tiền của P nộp là 100.000đ và tiền thu tại chiếu bạc là 250.000đ.

Qua điều tra, Huỳnh Duy T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Đối với Đặng Văn K, Đoàn Chí H, Phan Văn P, Trầm Trúc L có hành vi đánh bạc, nhưng chưa cấu thành tội phạm, nên Công an huyện Vũng Liêm đã ra quyết định xử phạt hành chính.

Cáo trạng số: 38/CT-VKSHVL ngày 02/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm đã truy tố Huỳnh Duy T về tội: Đánh bạc; theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với Huỳnh Duy T; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo mức án từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.

Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu sung vào công quỹ số tiền 1.150.000đ; tịch thu tiêu hủy 80 cuộn băng keo; 01 cân đồng hồ loại 05 kg hiệu Nhơn Hòa; 01 dụng cụ lắc tài xỉu; trả lại cho bị cáo T 01 xe mô tô biển số 84F1-143.18.

Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Duy T đã thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bà nội là bà mẹ Việt Nam anh hùng, ông nội là liệt sĩ, nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng đảm bảo răn đe, phòng ngừa.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Huỳnh Duy T đã thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Bị cáo xác định không khiếu nại đối với quá trình tiến hành tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, của điều tra viên, kiểm sát viên và lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung hay dùng nhục hình. Do đó, hành vi và các chứng cứ, tài liệu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, qua lời khai của bị cáo đã thể hiện: Khoảng 11 giờ ngày 01/02/2021, Huỳnh Duy T đã cùng Trầm Trúc L, Phan Văn P và một số đối tượng khác tham gia đá gà thắng thua bằng tiền. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: Đánh bạc; theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thừa nhận hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật tham gia sát phạt nhau chỉ vì lợi ích của bản thân. Hành vi của bị cáo gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, đồng thời bị cáo có tiền sự về hành vi đánh bạc, nên đối với bị cáo cần xử lý nghiêm để phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bà nội là bà mẹ Việt Nam anh hùng, ông nội là liệt sĩ, nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà cho bị cáo cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng đảm bảo răn đe, phòng ngừa.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Về vật chứng:

Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/6/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm, vật chứng gồm: 80 cuộn băng keo; 01 cân đồng hồ loại 05 kg hiệu Nhơn Hòa; 01 dụng cụ lắc tài xỉu; 01 xe môtô biển số 84F1-143.18; tiền Việt Nam 1.150.000đ (Một triệu một trăm năm mươi ngàn đồng), trong đó: Tiền của T nộp là 800.000đ; tiền của P nộp là 100.000đ và tiền thu tại chiếu bạc là 250.000đ.

Đối với số tiền 1.150.000đ (Một triệu một trăm năm mươi ngàn đồng) đây là tiền dùng vào việc đánh bạc, nên cần tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước.

Đối với 80 cuộn băng keo; 01 cân đồng hồ loại 05 kg hiệu Nhơn Hòa; 01 dụng cụ lắc tài xỉu, đây là công cụ dùng vào việc thực hiện tội phạm, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe môtô biển số 84F1-143.18 là của bị cáo T, không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.

Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đã xem xét đến các chứng cứ được đưa ra thẩm tra tại phiên tòa, đã đánh giá đúng hành vi, tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo. Về đề nghị mức hình phạt, đại diện Viện kiểm sát đã xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo. Do đó, chấp nhận một phần quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.

Đối với quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo là có cơ sở, nên chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẻ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Duy T phạm tội: Đánh bạc;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Duy T: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.

Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo được tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh nhận được bản án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã M trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

2. Miễn hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước số tiền 1.150.000đ (Một triệu một trăm năm mươi ngàn đồng).

Tịch thu tiêu hủy: 80 cuộn băng keo; 01 cân đồng hồ loại 05 kg hiệu Nhơn Hòa; 01 dụng cụ lắc tài xỉu.

Trả lại cho bị cáo T 01 xe môtô biển số 84F1-143.18.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo T phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo để xin Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ