- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Văn Q - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ LANG TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2021/HS-ST Ngày 09-11-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ LANG, TỈNH CAO BẰNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sầm Đức Hiệp
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nông Văn Tướng.
2. Ông Nông Trung Kiên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Dim - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2021/TLST-HS ngày 12/10/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 607/2021/QĐXXST-HS ngày 27/10/2021 đối với bị cáo:
- Nông Văn Q, sinh ngày 22/12/1999, tại xã CV, huyện TK, tỉnh Cao Bằng.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm SL, xã CV, huyện TK, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Nông dân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn K và bà Triệu Thị N; vợ: Mã Thị D, sinh năm 1998; con: Chưa có; Tiền án; tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng từ ngày 13/7/2021 đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nông Văn S - Trợ giúp pháp lý thuộc Trung Tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
- Người làm chứng:
+ Nông Văn T, sinh năm 1989.
Nơi cư trú: Xóm BX, xã TL, huyện H, tỉnh Cao Bằng.
+ Nông Trọng H, sinh năm 1992.
Nơi cư trú: Xóm ĐT, xã ĐL, huyện H, tỉnh Cao Bằng.
Tất cả người làm chứng đều vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 45 phút ngày 13/7/2021, tổ công tác Công an huyện HL phối hợp với Đồn Biên phòng Cửa khẩu LV và Công an xã ĐL làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát khu vực xóm ĐT, xã ĐL, huyện HL, tỉnh Cao Bằng, phát hiện một người đàn ông điều khiển xe máy, không đội mũ bảo hiểm, có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra người điều khiển xe là Nông Văn Q, trú tại xóm SL, xã CV, huyện TK, khám người Q thì phát hiện trong túi quần phía trước bên phải có 05 (năm) gói giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy loại Heroine), 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu bạc, loại màn hình cảm ứng. Sự việc được lập biên bản tại chỗ, vật chứng được niêm phong và người được đưa về trụ sở để làm rõ.
Quá trình điều tra chứng minh được: Chất bột màu trắng bị thu giữ được Cơ quan điều tra Công an huyện HL cân có khối lượng 0,11g (không phẩy mười một gam), được Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Cao Bằng giám định là Heroine, do bị cáo Q mua với một người đàn ông không biết tên ở xã CT, huyện TK, Cao Bằng với số tiền là 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) vào ngày 12/7/2021. Sau khi mua được ma túy, Q đem về nhà và chia thành nhiều gói nhỏ mục đích để sử dụng và bán lẻ kiếm lời. Khoảng 11 giờ ngày 13/7/2021, Nông Văn Tài ở BX, xã TL, huyện HL gọi điện cho Q để hỏi mua ma túy, nên Q mang theo số ma túy vừa mua được để bán cho T, trên đường đi đến xóm ĐT, xã ĐL, huyện HL thị bị kiểm tra và bắt giữ.
Trước khi bị bắt, Q đã bán ma túy cho những người sau: Bán ma túy cho Nông Văn T, trú tại BX, xã TL, huyện HL 02 lần, cụ thể vào khoảng tháng 6/2021, bán 01 gói cho T với số tiền 100.000đ tại xóm ĐT, xã ĐL, huyện HL và ngày 07/7/2021 bán 01 gói cho T với số tiền 130.000đ tại xóm ĐT, xã ĐL, huyện HL tại đoạn đường gần Ủy ban nhân dân xã ĐL, huyện HL. Bán ma túy cho Nông Trọng H, trú tại xóm ĐT, xã ĐL, huyện HL 01 gói với số tiền 90.000đ vào ngày 12/7/2021 tại đoạn đường gần trường Trung học phổ thông BC, xã LQ, huyện HL. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện HL đã thu giữ 01 (một) phong bì niêm phong chứa chất ma túy của bị cáo Nông Văn Q và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu bạc, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng của bị cáo Q dùng để liên lạc mua bán ma túy. Chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA LEAD, màu vàng nâu, gắn biển kiểm soát 11B1 – 424.XX mà Q sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy, đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện Hạ Lang trả lại cho chị Nông Thị V, trú tại xóm ĐT, xã ĐL, huyện HL, tỉnh Cao Bằng.
Tại bản Cáo trạng số: 46/CT-VKSHL ngày 12/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Lang đã truy tố Nông Văn Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa:
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện đúng như Cáo trạng phản ánh và cho rằng việc truy tố về tội mua bán trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội, không oan.
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Xử phạt bị cáo Q từ 07 đến 08 năm tù. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy số Heroine bị thu giữ; tịch thu sung công chiếc điện thoại của bị cáo vì được sử dụng làm phương tiện liên lạc khi mua bán ma túy.
Người bào chữa cho bị cáo Nông Văn Q trình bày, hoàn toàn nhất trí với bản luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt và xử lý vật chứng đối với bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, là người dân tộc thiểu số, sống ở nơi biên giới hẻo lánh, cuộc sống kinh tế đặc biệt khó khăn, là lao động chính trong gia đình, ngoài ra bị cáo có công hương khói, thờ cúng liệt sĩ là ông chú ruột. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS cần được áp dụng khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử, cho bị cáo được hưởng mức nhẹ nhất của khung hình phạt.
Bị cáo không có ý kiến bào chữa, không tranh luận với các quan điểm của đại diện Viện kiểm sát và không có khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng, chỉ đề nghị được xem xét giảm nhẹ, cho hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hạ Lang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Lang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện và các yếu tố cấu thành tội phạm: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, hoàn toàn phù hợp với các lời khai tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, số lần và số tiền mua bán ma túy và các tài liệu khác có trong hồ sơ nên có cơ sở để kết luận: Do Nông Văn Q đã sử dụng ma túy từ tháng 6 năm 2020, nên ngày 12/7/2021, Q đã sang xã CT, huyện TK để mua ma túy với một người đàn ông không biết tên, địa chỉ với số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) với mục đích mua ma túy về sử dụng và bán lẻ kiếm lời. Đến ngày 13/7/2021, sau khi được Nông Văn T ở BX, xã TL, huyện HL gọi điện để hỏi mua ma túy, Q điều khiển xe máy từ nhà sang Hạ Lang để bán ma túy cho T và mang theo toàn bộ số ma túy đã mua được, khi đang trên đường đi thì bị cơ quan chức năng đang làm nhiệm vụ tại khu vực xóm ĐT, xã ĐL, huyện Hạ Lang bắt giữ cùng với 05 gói ma túy. Số ma túy bị thu giữ được cơ quan chức năng cân có khối lượng là 0,11 gam và được xác định là chất Heroine. Trước khi bị bắt, Q đã bán ma túy cho Nông Văn T 02 lần vào khoảng tháng 6/2021 và ngày 07/7/2021 với số tiền 100.000đ và 130.000đ; bán ma túy cho Nông Trọng H 01 lần vào ngày 12/7/2021 với số tiền là 90.000đ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, tiếp tay cho tệ nạn mua bán trái phép ma túy ngày càng gia tăng hiện nay, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, đồng thời khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực và nhận thức để biết được việc mua bán trái phép chất ma túy là phạm pháp, tuy nhiên bị cáo đã bất chấp pháp luật để thực hiện. Hành vi của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Lang đã truy tố và đề nghị mức án đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Do bị cáo bán ma túy nhiều lần cho nhiều người, mỗi lần bán đều cấu thành một tội phạm độc lập nên bị coi là phạm tội 02 lần trở lên là tình tiết định khung được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do có tình tiết định khung nên cần có mức án nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung. Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo cho rằng bị cáo có công hương khói cho liệt sĩ, tuy nhiên bố của bị cáo là người trực tiếp được hưởng chế độ thờ cúng liệt sĩ, nên bị cáo không thuộc trường hợp này. Tuy nhiên, trong quá trình tố tụng bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống tại vùng biên giới có điều kiện kinh tế và giao thông đi lại khó khăn nên phần nào cũng ảnh hưởng đến nhận thức pháp luật, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS cần được áp dụng khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông không biết tên ở xã CT, TK đã bán ma túy cho bị cáo, do không xác định được danh tính và địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự. Đối với Nông Văn T và Nông Trọng H là những người có liên quan đến việc đi mua ma túy về để sử dụng, nhưng do không thu giữ được ma túy nên không xác định được định lượng, vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Lang không truy cứu trách nhiệm hình sự là có cơ sở.
. Về vật chứng: Số Heroine bị thu giữ là mặt hàng nhà nước cấm mua bán, vận chuyển, tàng trữ và sử dụng dưới mọi hình thức nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu bạc, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng được xác định là tài sản của bị cáo Q, nhưng có liên quan đến tội phạm nên cần tịch thu sung công. Chiếc xe máy, nhãn hiệu HONDA LEAD có biển kiểm soát 11B1 – 424.XX là tài sản của chị Nông Thị V, chị V không có lỗi trong việc Q sử dụng xe máy đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Hạ Lang đã trả cho chủ sở hữu, việc trả lại xe máy cho chị V là hoàn toàn đúng quy định.
. Về án phí: Bị cáo là người bị kết tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Nông Văn Q 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 13/7/2021.
3. Về vật chứng: Áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên trong chứa Heroine, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng thu giữ của Nông Văn Q, bắt ngày 13/7/2021”.
- Tịch thu sung công 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu bạc, loại màn hình cảm ứng đã qua sử dụng của bị cáo Nông Văn Q.
Xác nhận những vật chứng nêu trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Nông Văn Q phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - Sở tư pháp; - VKSND tỉnh; - VKSND huyện; - Công an huyện; - Chi cục THADS huyện; - UBND xã CV (bằng thông báo); - Bị cáo; - Lưu. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký và đóng dấu) Sầm Đức Hiệp |