- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đàm Ngọc Trường - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố: Bị cáo Đàm Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự - Tịch thu tiêu hủy
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 43/2021/HS-ST Ngày: 09/12/2021 |
HUYỆN CHỢ ĐỒN Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Văn Mẫn Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lý Thị Minh Phương 2. Bà Trần Thị Miên - Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Đậu Xuân Hà – Kiểm sát viên. Ngày 09 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2021/TLST- HS ngày 10/11/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2021/QĐXXST- HS ngày 25/11/2021 đối với bị cáo: Đàm Ngọc T (tên gọi khác không); sinh ngày 25 tháng 5 năm 1968; nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 7/10; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đàm Ngọc T (đã chết) và con bà Lê Thị T; vợ: Triệu Thị L, con: Có 02 con (Con lớn sinh năm 1988, Con nhỏ sinh năm 1990); tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 10/7/2009 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng theo Quyết định số: 821/QĐ - UBND của Chủ tịch UBND huyện C, tỉnh Bắc Kạn, ngày 01/7/2010 chấp hành xong; ngày 27/7/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tuyên phạt 07 năm tù về Tội mua bán trái phép chất ma túy theo bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2012/HSST, ngày 28/4/2017 chấp hành án xong, đã được xóa án tích; bị áp dụng biện pháp Tạm giữ từ ngày 24/8/2021 đến ngày 01/9/2021 thì được hủy bỏ; hiện tại đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa. * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Triệu Thị L; Sinh năm 1969; Trú tại: Thôn N, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 15 giờ 35 phút ngày 24/8/2021, Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Bắc Kạn đang làm nhiệm vụ tại xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn đã phát hiện và bắt quả tang bị cáo Đàm Ngọc T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ: 01 (một) gói giấy trắng có dòng kẻ và in chữ bên trong có 01 (một) gói giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng tại túi quần sau bên trái bị cáo T đang mặc trên người (được niêm phong vào phong bì ký hiệu T1), 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave biển kiểm soát 97B1- 445.39 (kèm theo chìa khóa xe); Số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng) được niêm phong vào phong bì ký hiệu T2; 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màn hình cảm ứng, màu xanh đen đã qua sử dụng bên trong có gắn 02 (hai) thẻ sim được niêm phong vào phong bì ký hiệu T3; 01 (một) căn cước công dân số 006068003320 mang tên Đàm Ngọc T và 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 004561 mang tên Triệu Thị L, biển số đăng ký 97B1- 445.39. Hồi 16 giờ 45 phút, ngày 24/8/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Kạn tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, công trình phụ cận đối với bị cáo Đàm Ngọc T tại thôn N, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Qua khám xét phát hiện và thu giữ: 01 (một) gói giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng bên trong gói chứa chất bột màu trắng tại hộp đựng đồ (được niêm phong vào phong bì ký hiệu T12) và 01 (một) quyển vở tập viết đã bị xé để trong phòng ngủ của bị cáo Trường. Tại biên bản mở, đóng niêm phong, kiểm tra, cân xác định khối lượng vật chứng nghi là chất ma túy hồi 21 giờ 00 phút ngày 24/8/2021 xác định: Bên trong phong bì niêm phong ký hiệu T1 có 01 (một) gói nhỏ được gói bằng mảnh giấy màu trắng dòng kẻ và in chữ bên trong có 01 (một) gói giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng. Cân riêng chất bột màu trắng có khối lượng 0,150g (không phẩy một năm không gam) niêm phong trong 01 (một) phong bì mới gửi Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn giám định ký hiệu A1 và bên trong phong bì niêm phong ký hiệu T12 có 01 (một) gói nhỏ được gói bằng mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng bên trong gói chứa chất bột màu trắng. Cân riêng chất bột màu trắng có khối lượng 0,06g (không phẩy không sáu gam) niêm phong trong 01 (một) phong bì mới gửi Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn giám định ký hiệu A2. Các vỏ phong bì T1, T12 và giấy gói cũ được niêm phong trong 01 (một) phong bì mới ký hiệu A3. Tại bản kết luận giám định số: 153/KTHS - MT ngày 30/8/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,15g (không phẩy một năm gam) và mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,06g (không phẩy không sáu gam). Tổng khối lượng chất bột màu trắng có trong 02 (hai) phong bì ký hiệu A1 và A2 gửi giám định là 0,21g (không phẩy hai một gam).
Quá trình điều tra bị cáo Đàm Ngọc T khai nhận: Toàn bộ số ma túy (heroine) mà Cơ quan Công an thu giữ khi bắt quả tang và khi khám xét là do bị cáo mua về để sử dụng cá nhân, cụ thể: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 24/8/2021, bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97B1- 445.39 từ nhà đi lên khu vực chợ xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn mua thức ăn, tại đây do lên cơn nghiện ma túy nên bị cáo đã gặp và hỏi mua 01 (một) gói ma túy với số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) với một người đàn ông khoảng 30 tuổi (không rõ tên tuổi, địa chỉ) rồi điều khiển xe đi về nhà để sử dụng 01(một) phần số ma túy mua được bằng hình thức đốt hít. Số ma túy còn lại bị cáo chia thành 02 (hai) gói, đem cất 01 (một) gói vào hộp đồ trong phòng ngủ của bị cáo, còn 01 (một) gói ma túy bị cáo cất vào túi quần đằng sau bên trái đang mặc để sử dụng. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97B1- 445.39 để đi đắp nước ruộng, khi đi đến khu vực thôn N, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Kạn bắt quả tang thu giữ 01 (một) gói ma túy mang theo, sau đó khi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Kạn tiến hành khám xét khẩn cấp vào hồi 16 giờ 45 phút cùng ngày đã thu giữ 01(một) gói ma túy còn lại mà bị cáo đang cất dấu ở nhà. Về vật chứng cơ quan điều tra tạm giữ trong vụ án gồm: 01 (một) phong bì đã được niêm phong dán kín ký hiệu T153 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn sau khi giám định hoàn trả lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Đồn (bên trong có 0,15 gam ma túy Heroine cùng phong bì A1, A2 và bao gói cũ niêm phong ban đầu); 01 (một) phong bì ký hiệu A3 (bên trong có phong bì ký hiệu T1, T2 và giấy gói cũ); 01 (một) điện thoại di động OPPO màn hình cảm ứng đã qua sử dụng, màu xanh đen, màn hình điện thoại có nhiều vết rạn, nứt bên trong có gắn 02 (hai) thẻ sim; 01 (một) xe mô tô HONDA, số loại WAVE, màu sơn trắng đen bạc, biển kiểm soát 97B1 – 445.39, số khung 1217DY569621, số máy HC 12E5569651, xe đã qua sử dụng (kèm theo chìa khóa xe); 01 (một) căn cước công dân số 00606803320, cấp ngày 27/06/2021 mang tên Đàm Ngọc T; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 004561, cấp ngày 25/03/2015 mang tên Triệu Thị L, biển số đăng ký 97B1 – 445.39; 01 (một) quyển vở tập viết không có bìa gồm 39 trang trong đó có 03 (ba) trang đã bị rách; 01 (một) phong bì ký hiệu G1 được niêm phong dán kín bên trong đựng số tiền 100.000 (một trăm nghìn) đồng tiền do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành. Tại bản cáo trạng số: 44/CT - VKSCĐ ngày 09 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn đã truy tố bị cáo Đàm Ngọc T về tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Đàm Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 khoản 5 Điều 249; khoản 2 Điều 35; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đàm Ngọc T từ 18 đến 24 tháng tù. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Về xử lý vật chứng đề nghị: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 176 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy (Heroine) thu giữ của Đàm Ngọc T sau khi trích giám định còn lại 0,15 (không phẩy mười lăm gam) cùng phong bì A1, A2 và bao gói cũ niêm phong ban đầu; 01 (một) phong bì ký hiệu A3 (bên trong có phong bì ký hiệu T1, T2 và giấy gói cũ); 01 (một) vỏ phong bì ký hiệu T153; 01 (một) phong bì ký hiệu G1; 01 (một) quyển vở tập viết không có bìa gồm 39 (ba mươi chín) trang trong đó có 03 (ba) trang đã bị rách; - Trả lại cho bị cáo: 01 (một) căn cước công dân số 00606803320, cấp ngày 27/06/2021 mang tên Đàm Ngọc T; 01 (một) điện thoại di động OPPO màn hình cảm ứng đã qua sử dụng và số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng) nhưng cần tạm giữ chiếc điện thoại và số tiền này để đảm bảo thi hành án cho bị cáo; - Trả lại cho bà Triệu Thị L 2/3 giá trị xe mô tô HONDA, loại WAVE, màu sơn trắng đen bạc, Biển kiểm soát 97B1 – 445.39 (phần giá trị thuộc sở hữu của bà Triệu Thị L); - Tịch thu sung quỹ nhà nước 1/3 giá trị xe mô tô xe mô tô HONDA, loại WAVE, màu sơn trắng đen bạc, Biển kiểm soát 97B1 – 445.39 (phần giá trị thuộc sở hữu của bị cáo). - Tạm giữ 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 004561, cấp ngày 25/03/2015 mang tên Triệu Thị L, biển số đăng ký 97B1 – 445.39 để đảm bảo thi hành án. Về án phí đề nghị: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Triệu Thị L đề nghị được trả lại xe mô tô HONDA, số loại WAVE, màu sơn trắng đen bạc, biển kiểm soát 97B1 – 445.39; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 004561, cấp ngày 25/03/2015 mang tên Triệu Thị L, biển số đăng ký 97B1 – 445.39 bị tạm giữ trong vụ án. Tại phiên toà bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Đồn, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện Chợ Đồn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Tại phiên tòa bị cáo Đàm Ngọc T khai nhận: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 24/08/2021 tại khu vực thuộc thôn N, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn khi bị cáo đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97B1- 445.39 để đi xem nước ruộng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Kạn bắt quả tang thu giữ 01 (một)
gói ma túy mang theo trên người. Sau đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Kạn tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở và các công trình phụ cận đã thu giữ thêm 01(một) gói ma túy của bị cáo cất giấu tại nhà ở. Toàn bộ số ma túy bị thu giữ là do bị cáo mua với một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ hồi 08 giờ 30 phút ngày 24/8/2021 tại khu vực chợ xã N, huyện C để sử dụng cá nhân. Tổng khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ bị thu giữ là 0,21g (không phẩy hai một gam), loại Heroine. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ căn cứ để kết luận: Hành vi tàng trữ trái phép 0,21g (không phẩy hai một gam) ma túy Heroine của bị cáo cấu thành Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số: 44/CT – VKSCĐ ngày 09 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật. [3] Về tính chất hành vi của bị cáo thực hiện: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước về các chất ma tuý, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. [4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo có bố đẻ là ông Đàm Ngọc T được Nhà nước tặng thưởng Huy chương chiến thắng hạng nhì nên bị cáo được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về nhân thân: Bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tuyên phạt 07 năm tù về Tội mua bán trái phép chất ma túy nên xác định bị cáo có nhân thân xấu. [5] Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đảm bảo việc răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Ngoài hình phạt chính theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì người phạm tội còn có thể bị bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, qua các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có điều kiện về kinh tế. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. [6] Về xử lý vật chứng: - Đối với số ma túy (Heroine) thu giữ của Đàm Ngọc T sau khi trích giám định còn lại 0,15 (không phẩy mười lăm gam) ma túy Heroine thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cùng phong bì A1, A2 và bao gói cũ niêm phong ban đầu; 01 (một) phong bì ký hiệu A3 (bên trong có phong bì ký hiệu T1, T2 và giấy gói cũ); 01 (một) vỏ phong bì ký hiệu T153; 01 (một) phong bì ký hiệu G1, 01
(một) quyển vở tập viết không có bìa gồm 39 trang trong đó có 03 (ba) trang đã bị rách tất cả đều không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy. - Đối với 01 (một) xe mô tô HONDA, số loại WAVE, màu sơn trắng đen bạc, biển kiểm soát 97B1 – 445.39 (kèm theo chìa khóa xe); 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 004561, cấp ngày 25/03/2015 mang tên Triệu Thị L, biển số đăng ký 97B1 – 445.39 thu giữ của bị cáo Đàm Ngọc T. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô này có đăng ký chủ xe mang tên Triệu Thị L, thời điểm bà L mua xe mô tô thì bị cáo đang chấp hành án phạt tù tại trại giam nên không có đóng góp gì, tuy nhiên chiếc xe là tài sản được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân giữa bà Triệu Thị L và bị cáo Đàm Ngọc T nên xác định là tài sản chung của vợ chồng bà L với bị cáo T. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước 1/3 giá trị xe mô tô (phần giá trị thuộc sở hữu của bị cáo Đàm Ngọc T), 2/3 giá trị còn lại của chiếc xe trả lại cho bà Triệu Thị L. Còn 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 004561, cấp ngày 25/03/2015 mang tên Triệu Thị L, biển số đăng ký 97B1 – 445.39 và chìa khóa xe kèm theo cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án. - Đối với 01 (một) căn cước công dân số 00606803320, cấp ngày 27/06/2021 mang tên Đàm Ngọc T, 01 (một) điện thoại di động OPPO màn hình cảm ứng đã qua sử dụng, màu xanh đen, màn hình điện thoại có nhiều vết rạn, nứt và số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng) tiền do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành đều tạm giữ của bị cáo Đàm Ngọc T. Quá trình điều tra xác định những tài sản này thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo T. Tuy nhiên cần tạm giữ chiếc điện thoại và số tiền trên để đảm bảo thi hành án cho bị cáo. [7] Đối với người đàn ông khoảng 30 tuổi (Không rõ họ tên, địa chỉ) theo lời khai của bị cáo Đàm Ngọc T là người đã bán ma túy Heroine cho bị cáo tại khu vực Chợ xã N, huyện C vào ngày 24/8/2021. Kết thúc điều tra bị cáo không cung cấp được danh tính, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ để điều tra, xử lý. [8] Đối với bà Triệu Thị L là người sở hữu chiếc xe mô tô kiểm soát 97B1- 445.39. Tuy nhiên quá trình điều tra xác định khi bị cáo T sử dụng xe mô tô đi mua ma túy để sử dụng thì bà L không biết nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý là đúng quy định pháp luật. [9] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Đàm Ngọc Trường phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Tuyên bố: Bị cáo Đàm Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. [2]. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đàm Ngọc T 18 tháng tù, được trừ thời gian bị tạm giữ (từ ngày 24/8/2021 đến ngày 01/9/2021), thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù của bản án [3]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì ký hiệu T153 hoàn trả lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Đồn, đã được niêm phong theo quy định (bên trong có 0,15 gam ma túy Heroine cùng phong bì A1, A2 và bao gói cũ niêm phong ban đầu); 01 (một) phong bì ký hiệu A3 đã được niêm phong theo quy định (bên trong có phong bì ký hiệu T1, T2 và giấy gói cũ; 01 (một) quyển vở tập viết không có bìa gồm 39 trang trong đó có 03 (ba) trang đã bị rách; 01 (một) vỏ phong bì ký hiệu G1. - Tịch thu sung quỹ nhà nước 1/3 giá trị xe mô tô xe mô tô HONDA, loại WAVE, màu sơn trắng đen bạc, biển kiểm soát 97B1 – 445.39, số khung 1217DY569621, số máy HC 12E5569651, xe đã qua sử dụng (phần thuộc sở hữu của bị cáo Đàm Ngọc T). - Trả lại cho bị cáo Đàm Ngọc T gồm: 01 (một) Căn cước công dân số 00606803320, cấp ngày 27/06/2021 mang tên Đàm Ngọc T; 01 (một) điện thoại di động OPPO màn hình cảm ứng đã qua sử dụng, màu xanh đen, màn hình điện thoại có nhiều vết rạn, nứt và số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng) tiền do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhưng cần tạm giữ chiếc điện thoại và số tiền để đảm bảo thi hành án cho bị cáo. - Trả lại cho bà Triệu Thị L 2/3 giá trị xe mô tô HONDA, loại WAVE, màu sơn trắng đen bạc, Biển kiểm soát 97B1 – 445.39, số khung 1217DY569621, số máy HC 12E5569651, xe đã qua sử dụng (phần thuộc sở hữu của bà Triệu Thị L). - Tạm giữ 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 004561, cấp ngày 25/03/2015 mang tên Triệu Thị L, biển số đăng ký 97B1 – 445.39 kèm theo chìa khóa xe mô tô để đảm bảo thi hành án. (Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn). [4]. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Đàm Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước. "Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
[5]. Quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKS tỉnh; - Sở tư pháp; - VKSND Chợ Đồn; - Công an Chợ Đồn; - THADS Chợ Đồn; - Người tham gia tt; - Lưu hồ sơ. Triệu Văn Mẫn | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |