- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mùng Văn Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Mùng Văn Th phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 296 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2021/HS-ST Ngày: 22-10-2021. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Anh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà: Nguyễn Thị Nga.
Bà: Bế Thị Thu Trang.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Thể - Thẩm tra viên chính, Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Nông Thiêm Mẫn và bà Nguyễn Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2021/TLST-HS, ngày 04 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:
Mùng Văn Th, (Tên gọi khác: không) sinh ngày 22/9/1993, tại huyện P, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Thôn B, xã Ngh, huyện P, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mùng Văn L và bà Nông Thị L; Có vợ (đã ly hôn) và 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/5/2021 đến ngày 08/6/2021 thì được tại ngoại cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Sầm Văn Kính - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Mùng Văn M, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Thôn B, xã Ngh, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
* Người chứng kiến:
- Ma Thị Ng; sinh năm 1961. Vắng mặt.
- Dƣơng Ngọc D; sinh năm 1976. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 30/5/2021 Công an huyện B phối hợp với Công an xã Th tiến hành tuần tra đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn, khi đến đoạn đường quốc lộ 258B thuộc thôn N, xã Th, huyện B thì phát hiện 01 đối tượng điều khiển xe mô tô BKS 97B1-466.20 nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đi theo hướng từ xã Th, huyện B đi xã Ngh, huyện P có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra phát hiện đối tượng là bị cáo Mùng Văn Th, quá trình kiểm tra bị cáo Th đã giao nộp 01 gói ma túy trong túi quần đằng sau bên phải đang mặc. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 01 gói ma túy có đặc điểm được gói bằng túi nilon màu trắng, có in chữ màu xanh, bên trong có 01 gói được gói bằng giấy một mặt trắng, một mặt xanh chứa chất dạng cục màu trắng, bị cáo Th khai là mua ma túy Heroine và niêm phong trong phong bì ký hiệu A1, thu giữ 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu MEIZU, màu đen và 01 xe mô tô BKS 97B1-466.20, tiến hành kiểm tra xe mô tô không phát hiện thu giữ đồ vật gì. Đồng thời tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo Mùng Văn Th, kết quả khám xét không phát hiện, thu giữ thêm đồ vật, tài liệu gì có liên quan đến hành vi vi phạm của bị cáo Th.
Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo Mùng Văn Th khai: Khoảng 12 giờ trưa ngày 30/5/2021, bị cáo Th đi xe mô tô BKS 97B1-466.20 mượn của anh trai bị cáo là Mùng Văn M từ nhà ra thôn T, xã Th, huyện B gặp anh C để lấy cỏ cho bò nhưng không gặp, sau đó bị cáo Th quay về nhà, đi được một đoạn thì gặp một người đàn ông gầy, đen không quen biết, không biết họ tên, địa chỉ, bị cáo Th có hỏi mua ma túy và được người đó bán cho 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, bị cáo Th cho vào túi quần đằng sau bên phải rồi đi về nhà, khi đến đoạn đường thuộc thôn N, xã Th thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Bể đã tiến hành mở niêm phong phong bì ký hiệu A1 để cân xác định khối lượng gói chứa chất dạng cục, bột màu trắng thu giữ của bị cáo Mùng Văn Th được 0,36 gam (niêm phong trong phong bì ký hiệu B1). Sau đó tiến hành bàn giao cho Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn để trưng cầu giám định.
Tại Kết luận giám định số: 102/KTHS-MT ngày 03/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine có khối lượng là 0,36 g (không phẩy ba sáu gam). Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu B1 còn lại là 0,30 g (không phẩy ba không gam) cùng phong bì, bao gói cũ được niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T102 và hoàn trả lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Bể quản lý theo quy định.
Bản Cáo trạng số: 36/CT-VKSBB ngày 30/9/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Mùng Văn Th về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Mùng Văn Th đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể duy trì quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo Mùng Văn Th theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Mùng Văn Th phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Mùng Văn Th từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc hộ nghèo, là đối tượng nghiện ma túy, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định để tạo ra thu nhập nên đề nghị không phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự để xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số vật chứng không có giá trị sử dụng gồm: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu B2 bên trong có chứa toàn bộ giấy gói chất ma túy thu được, phong bì niêm phong cũ, 01 phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T102, bên trong phong bì có chứa: Mẫu vật còn lại sau giám định và phong bì, bao gói cũ. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi vụ Mùng Văn Th (1993) tàng trữ trái phép chất ma túy, ký hiệu “T102”, mặt sau có 04 chữ ký không đọc được cùng 02 dấu tròn của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn.
- Trả lại cho bị cáo Mùng Văn Th 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu đen, nhãn hiệu MEIZU, màn hình vỡ. Điện thoại cũ đã qua sử dụng. Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu lấy lại nên đề nghị tịch thu hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước.
- Trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu xanh; Biển kiểm soát 97B1-466.20 cho anh Mùng Văn M vì không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo, có đơn xin miễn án phí nên đề nghị miễn án phí hình sự cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận người bào chữa, bị cáo đồng ý với bản luận tội của đại diện viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt áp dụng và không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Bể, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; quyết định tố tụng được ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử những người tham gia tố tụng không ai khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt những người chứng kiến. Tuy nhiên, họ đã có đầy đủ lời khai tại giai đoạn điều tra, việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án của Tòa án. Căn cứ vào Điều 296 của Bộ luật tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Về căn cứ định tội, định khung hình phạt:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Mùng Văn Th đều thừa nhận: Khoảng 12 giờ trưa ngày 30/5/2021, bị cáo Th mua 01 gói ma túy của một người đàn ông không biết danh tính, địa chỉ với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, bị cáo Th cho vào túi quần đằng sau bên phải rồi đi về nhà. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 30/5/2021 tại đoạn đường Quốc lộ 258B thuộc thôn N, xã Th, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, bị cáo Mùng Văn Th bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trên người 0,36 g (không phẩy ba sáu gam) ma túy, loại Heroine. Mục đích bị cáo Th mua ma túy về chỉ để sử dụng cho bản thân.
Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi nhưng bị cáo vẫn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến cùng tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Mùng Văn Th đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Trong các giai đoạn tố tụng bị cáo đều "Thành khẩn khai báo" là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo có ông nội được tặng Huy chương kháng chiến nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mặt khác góp phần tiếp tay làm gia tăng tệ nạn sử dụng ma tuý và tội phạm khác ở địa phương, gây mất an ninh trật tự, khiến quần chúng nhân dân bất bình lên án, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, do đó cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người công dân lương thiện, có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc hộ nghèo, không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp ổn định lại là đối tượng nghiện ma túy nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng:
* Đối với vật chứng gồm: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu B2 bên trong có chứa toàn bộ giấy gói chất ma túy thu được, phong bì niêm phong cũ, 01 phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T102, bên trong phong bì có chứa: Mẫu vật còn lại sau giám định và phong bì, bao gói cũ. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi vụ Mùng Văn Th (1993) tàng trữ trái phép chất ma túy, ký hiệu “T102”, mặt sau có 04 chữ ký không đọc được cùng 02 dấu tròn của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn.
Toàn bộ số vật chứng trên không có giá trị sử dụng, cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
* Đối với vật chứng: là 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu đen, nhãn hiệu MEIZU, màn hình vỡ. Điện thoại cũ đã qua sử dụng. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Bể đã xác định được chiếc điện thoại này bị cáo chỉ dùng để liên lạc với bạn bè, người thân trong gia đình không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó cần trả lại cho bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu lấy lại nên cần tịch thu hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước.
* Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu xanh; Biển kiểm soát 97B1-466.20 của anh Mùng Văn M. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Bể đã xác định được việc bị cáo dùng chiếc xe này để đi mua ma túy anh M không biết nên cần trả lại chiếc xe trên cho anh Mùng Văn M.
Về vấn đề khác: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Mùng Văn Th có khai mua ma túy của người đàn ông không rõ danh tính, họ tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với anh Mùng Văn M đã cho bị cáo mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu xanh; Biển kiểm soát 97B1-466.20 và bị cáo đã sử dụng chiếc xe này để đi mua ma túy. Tuy nhiên anh M không biết bị cáo sử dụng chiếc xe của mình vào mục đích phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Bể không xử lý là có căn cứ pháp luật.
Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều 106, Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.
1. Tuyên bố: Bị cáo Mùng Văn Th phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Mùng Văn Th 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án được trừ đi số ngày bị cáo bị tạm giữ (từ ngày 30/5/2021 đến ngày 08/6/2021).
3. Về vật chứng:
* Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số vật chứng không có giá trị sử dụng, cấm tàng trữ, cấm lưu hành gồm: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu B2 bên trong có chứa toàn bộ giấy gói chất ma túy thu được, phong bì niêm phong cũ, 01 phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T102, bên trong phong bì có chứa: Mẫu vật còn lại sau giám định và phong bì, bao gói cũ. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi vụ Mùng Văn Th (1993) tàng trữ trái phép chất ma túy, ký hiệu “T102”, mặt sau có 04 chữ ký không đọc được cùng 02 dấu tròn của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn.
* Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu đen, nhãn hiệu MEIZU, màn hình vỡ. Điện thoại cũ đã qua sử dụng của bị cáo Mùng Văn Th.
* Trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu xanh; Biển kiểm soát 97B1-466.20 cho anh Mùng Văn M.
(Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/10/2021 giữa Công an huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn).
4. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Mùng Văn Th.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn;(1) - VKSND tỉnh Bắc Kạn;(1) - VKSND huyện Ba Bể (2); - Bị cáo; (1) - Người bào chữa; (1) - Người có QL, NVLQ; (1) - Chi cục THADS huyện Ba Bể;(1) - Công an huyện Ba Bể;(2) - Sở tư pháp tỉnh Bắc Kạn;(1) - THAHS; (1) - Lưu hồ sơ vụ án; (1) - Lưu Văn phòng. (1) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Anh Tuấn |