- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng, án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2021/HS-PT Ngày: 23-4-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quang Sơn
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tỉnh; Ông Nguyễn Thế Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Sương – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 09/2021/TLPT-HS ngày 02 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Văn D do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 121/2020/HS-ST ngày 28 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố B , tỉnh Bến Tre.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn D (D Răng Giả), sinh năm 1967 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: số 726/1 Ấp x, xã S , thành phố B , tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D (đã chết) và bà Phạm Thị L; vợ Phan Thị X (đã ly hôn), có hai người con, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tại Bản án số 105/ST ngày 08/9/2006 bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Tre, tỉnh Bến Tre xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về “Tội đánh bạc”, tại Bản án số 90/HSST ngày 21 tháng 10 năm 2014 bị Tòa án nhân dân thành phố B , tỉnh Bến Tre xử phạt 03 năm tù về “Tội mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo tại ngoại, có mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ ngày 21 tháng 9 năm 2020, lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố B phối hợp với Công an Phường x , thành phố B , tỉnh Bến Tre tiến hành kiểm tra phòng trọ số 11, nhà trọ M ở số x , khu phố B , Phường x , thành phố B , tỉnh Bến Tre do Nguyễn Văn D thuê để ở. Tại thời điểm kiểm tra, trong phòng số x ngoài D còn có Lê Thị H , sinh năm 1987, nơi cư trú: số 143/73 ấp P , xã T , huyệnC , tỉnh Bến Tre. Qua kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện D có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với D và thu giữ tang vật.
Vật chứng thu giữ: thu của Nguyễn Văn D trên bệ xi măng sát góc tường hướng Đông Bắc của phòng số x gồm: thu trong gói thuốc lá JET: 01 túi ny lon màu trắng hàn kín ba phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch ngang màu đỏ, bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy ( Sau khi thu giữ được niêm phong trong phong bì có chữ ký và ghi tên Nguyễn Hải Đăng K , Nguyễn Văn D , Nguyễn Thái H, Lê Tấn T, Lê Thị H , Nguyễn Văn P và hình dấu tròn màu đỏ của Công an Phường x , thành phố B , tỉnh Bến Tre); 01 túi ny lon màu trắng hàn kín 03 phía, phía còn lại hở; 01 bình nhựa, trên nắp bình có gắn nỏ thủy tinh và ống hút nhựa màu trắng; 01 lon nhựa màu xanh.
Qua làm việc Nguyễn Văn D khai nhận: 01 túi ny lon màu trắng hàn kín ba phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch ngang màu đỏ, bên trong có chứa tinh thể màu trắng mà lực lượng Công an thu giữ trong gói thuốc lá hiệu JET để trên bệ xi măng sát góc tường hướng Đông Bắc của phòng số x là ma túy đá của D , D có được là do vào ngày 20 tháng 9 năm 2020, D lên Thành phố Hồ Chí Minh bán gà thì gặp người bạn tên P (không rõ lai lịch), P rủ D sử dụng ma túy và cho D một túi ny lon chứa ma túy đá đem về sử dụng. D bỏ gói ma túy đá P cho vào gói thuốc hiệu JET cất giấu sau đó trở về Bến Tre. Đến khoảng 13 giờ 30 phút ngày 21 tháng 9 năm 2020, D đến thuê phòng số x nhà trọ M ở số x , khu phố B , Phường x , thành phố B , tỉnh Bến Tre để ở. Tại đây, D lấy túi ma túy ra sử dụng một ít, phần còn lại D tiếp tục cất giấu vào gói thuốc hiệu JET rồi để trên bệ xi măng sát góc tường hướng Đông Bắc của phòng số 11. Được một lúc, H đến phòng số x tìm D để trả tiền mà H đã nợ trước đó, nhưng khi H vừa vào phòng số x thì lực lượng Công an vào kiểm tra phát hiện và thu giữ như trên.
Theo kết luận giám định số 105/2020/QĐMT ngày 28 tháng 9 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre kết luận: tinh thể màu trắng đựng trong một túi ny lon được niêm phong trong phong bì gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,7891 gam.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2020/HS-ST ngày 28 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố B , tỉnh Bến Tre đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D (D Răng Giả) phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 12/01/2021, bị cáo Nguyễn Văn D kháng cáo yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm và giữ nguyên kháng cáo yêu cầu được giảm nhẹ hình phạt.
Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị: không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo nói lời sau cùng: yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt để bị cáo chăm sóc cho mẹ già.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: đơn kháng cáo của bị cáo gửi đến Tòa án trong thời hạn kháng cáo phù hợp với quy định tại Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được xem là hợp lệ. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm đã xác định rằng: vào khoảng 14 giờ ngày 21 tháng 9 năm 2020, tại phòng số x nhà trọ M ở số x , khu phố B , Phường x , thành phố B , tỉnh Bến Tre, Nguyễn Văn D đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,7891 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết bị cáo phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm cho thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án đối với bị cáo là đúng quy định pháp luật, không oan sai.
Xét kháng cáo của bị cáo yêu cầu được giảm nhẹ hình phạt, thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo D 01 năm 06 tháng tù là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Xét về nhân thân, bị cáo đã nhiều lần bị Tòa án kết án về hành vi đánh bạc và mua bán trái phép chất ma túy nhưng bị cáo vẫn không biết ăn năn hối cải, hoàn lương, điều đó cho thấy bị cáo là người khó cải tạo giáo dục. Mặt khác, tệ nạn ma túy là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khỏe, tinh thần của con người, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội là nguyên nhân chính dẫn đến các tệ nạn xã hội khác. Để phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh có hiệu quả với tệ nạn ma túy cần phải xử lý nghiêm các hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy nên cần cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội để giáo dục riêng và phòng ngừa chung trước thực trạng tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng. Việc cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội trong một khoảng thời gian nhất định là cần thiết, tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa lỗi lầm của bản thân và cai nghiện ma túy. Vì vậy không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Đối với quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đã cân nhắc tính chất, mức độ của hành vi, hậu quả và nhân thân nên đã đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ nên được chấp nhận.
Về án phí hình sự phúc thẩm, theo quy định của pháp luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bị cáo phải chịu do kháng cáo không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
2. Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: án phí hình sự phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng, án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -Vụ GĐKT I - Tòa án nhân dân tối cao (1b); - VKSND tỉnh Bến Tre (1b); - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Bến Tre (1b); - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre (1b); - Tòa án nhân dân thành phố B (3b); - Công an và VKSND thành phố B (2b); - Chi cục THADS thành phố B (1b); - UBND xã S , thành phố B (1b); - Bị cáo (01b); - Phòng KTNV & THA, Tòa Hình sự, Văn phòng TAND tỉnh Bến Tre (5b); - Lưu hồ sơ vụ án (1b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Quang Sơn |