- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và già đình giữa chị Vi Thị N và anh Lương Văn X"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2021/HNGĐ-ST Ngày 27 tháng 4 năm 2021 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vi Thị Khuyên.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Bá Ngọc;
2. Bà Vi Thị Khiểu.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng-Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Xeo Văn Toàn-Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kỳ Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 37/2021/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2021 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2021/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vi Thị N, sinh năm 1979.
Nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Lương Văn X, sinh năm 1970.
Nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Vũ Thị Hồng-Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vi Thị N trình bày:
Về quan hệ tình cảm: Chị N và anh Lương Văn X lấy nhau năm 1993, đến ngày 26/5/2008 thì tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian đầu, về sau thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách, lối sống, quan điểm hai người không hợp nhau, không quan tâm, chăm sóc nhau, anh X lâm vào cảnh nghiện hút ma túy mặc dù chị đã nhiều lần tha thứ bỏ qua và hai bên gia đình cũng đã hòa giải nhiều lần nhưng anh X không thay đổi. Nay chị không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Lương Văn X.
Về con chung: Chị và anh Lương Văn X có 04 con chung là cháu Lương Thị M, sinh ngày 25/01/1997, cháu Lương Thị T, sinh ngày 21/9/1999, cháu Lương Thị Hiếu V, sinh ngày 04/4/2002 và cháu Lương Mạnh H, sinh ngày 27/10/2010. Nay ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Lương Mạnh H, sinh ngày 27/10/2010 cho đến khi đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) và không yêu cầu anh X cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với các cháu Lương Thị M, Lương Thị T, Lương Thị Hiếu V đã đủ tuổi trưởng thành nên tùy theo nguyện vọng của cháu.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Vi Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa: Sau khi thụ lý đơn khởi kiện, thông báo thụ lý vụ án, qua xác minh anh Lương Văn X thường xuyên vắng mặt tại địa phương, đi đâu và làm gì không ai biết, anh X cũng không khai báo với chính quyền địa phương về việc thay đổi nơi cư trú, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân xã C và tại Bản T, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An là nơi cư trú cuối cùng của bị đơn. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn anh Lương Văn X vẫn vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo đúng quy định tại Điều 204; 207; 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn lập luận và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với lý do: Chị Vi Thị N và anh Lương Văn X trong thời gian sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do tính cách, lối sống, quan điểm hai người không hợp nhau, không quan tâm, chăm sóc nhau, anh X lâm vào cảnh nghiện hút ma túy mặc dù chị đã nhiều lần tha thứ bỏ qua và hai bên gia đình cũng đã hòa giải nhiều lần nhưng anh X không thay đổi, nay chị N không còn tình cảm với anh X nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị N được ly hôn với anh Lương Văn X; về con chung: Giao con chung là cháu Lương Mạnh H, sinh ngày 27/10/2010 cho chị N được trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của con chung; đối với các cháu Lương Thị M, Lương Thị T, Lương Thị Hiếu V đã đủ tuổi trưởng và lập gia đình riêng nên không xem xét; về tài sản chung và nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền, xác định quan hệ tranh chấp; Trong quá trình điều tra thu thập chứng cứ Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ, tống đạt đảm bảo quyền của đương sự. Việc thuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự từ Điều 139 đến Điều 260 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của Thư ký phiên tòa được thực hiện đúng quy định tại Điều 51 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự: Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70,72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:
Về hôn nhân: Cho chị Vi Thị N và anh Lương Văn X được ly hôn;
Về con chung: Giao con chung là cháu Lương Mạnh H, sinh ngày 27/10/2010 cho chị Vi Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung cho đến khi đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng đối với anh Lương Văn X do chị N không yêu cầu. Đối với con chung là các cháu Lương Thị M, Lương Thị T, Lương Thị Hiếu V đã đủ tuổi trưởng thành nên không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị Vi Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Chị Vi Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Lương Văn X có địa chỉ cư trú tại xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ kiện Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành tốt các quyết định của Tòa án. Bị đơn thường xuyên vắng mặt tại địa phương, không chấp hành các quyết định của Tòa án, gây khó khăn cho công tác điều tra, thu thập chứng cứ. Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt cho đương sự hợp lệ, nhiều lần nhưng tại phiên tòa hôm nay bị đơn vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ tình cảm: Chị Vi Thị N và anh Lương Văn X tự nguyện kết hôn sau một thời gian tìm hiểu, kết hôn đúng điều kiện, nơi đăng ký kết hôn là tại UBND xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được một thời gian thì giữa hai người có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình, lối sống, quan điểm hai người không hợp nhau. Anh X nghiện ma túy nên từ đó tình cảm vợ chồng rạn nứt mặc dù chị N đã tha thứ nhiều lần nhưng anh X không thay đổi. Xét thấy, hôn nhân của chị N và anh X đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cho chị Vi Thị N được ly hôn với anh Lương Văn X.
Về con chung: Chị Vi Thị N và anh Lương Văn X có có 04 con chung là cháu Lương Thị M, sinh ngày 25/01/1997, cháu Lương Thị T, sinh ngày 21/9/1999, cháu Lương Thị Hiếu V, sinh ngày 04/4/2002 và cháu Lương Mạnh H, sinh ngày 27/10/2010. Hiện nay cháu Lương Thị M đã lập gia đình riêng, các cháu Lương Thị T, Lương Thị Hiếu V đang đi làm ăn ở xa, còn cháu Lương Mạnh H đang ở với chị N, anh X thường xuyên vắng mặt tại địa phương. Đồng thời nguyện vọng của cháu Lương Mạnh H cũng muốn ở với chị N nên cần giao con chung cho chị N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tổi) là phù hợp, đúng quy định, đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con. Đối với cháu Lương Thị M, Lương Thị T, Lương Thị Hiếu V đã trưởng thành và lập gia đình riêng nên không Hội đồng xét xử không xem xét. Sau ly hôn, anh X có quyền, nghĩa vụ chăm sóc, thăm nom con chung không ai được cản trở.
Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Do chị N không yêu cầu nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng đối với anh Lương Văn X. Trường hợp chị N nuôi con không đảm bảo quyền, lợi ích của con mà anh X có căn cứ chứng minh thì có quyền làm đơn thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Trường hợp anh X lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh X.
Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Chị Vi Thị N không yêu cầu Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét lập luận và đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là có cơ sơ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị N.
1. Về hôn nhân: Cho chị Vi Thị N được ly hôn với anh Lương Văn X.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Lương Mạnh H, sinh ngày 27/10/2010 cho chị Vi Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Lương Văn X do chị N không yêu cầu. Anh X có quyền, nghĩa vụ chăm sóc, thăm nom con chung không ai được cản trở. Trường hợp chị N là người trực tiếp nuôi con chung không đảm bảo quyền, lợi ích của con mà anh X có căn cứ chứng minh thì anh X có quyền yêu cầu Tòa án xem xét, thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Trường hợp anh X lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh X.
3. Về án phí: Chị Vi Thị N phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đã nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án theo biên lai thu ký hiệu AA/2015 số 0003912 ngày 08/01/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An. (Chị N đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm).
4. Về quyền kháng cáo: Chị Vi Thị N có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Lương Văn X vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Kỳ Sơn; - Chi cục THADS huyện Kỳ Sơn; - UBND xã C, huyện K; - Lưu hồ sơ; VP.TA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Vi Thị Khuyên |