vanban.org

Bản án 43/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H, buộc bà Nguyễn Thị Kim C phải có nghĩa vụ trả cho bà H tổng số tiền là 648.386.000đ; Trong đó: Nợ gốc là 563.000.000đ, nợ lãi là 85.386.000đ (tiền lãi tính từ ngày nghiã vụ bị vi phạm đến ngày 15/12/2020 với mức lãi suất 10%/năm). Kể từ ngày tiếp theo c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn Trần Thị H và bị đơn Nguyễn Thị Kim C"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BUÔN HỒ
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2021/DS- ST
Ngày 12 - 8 -2021
V/v: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Minh Chức.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Dũng và bà Nguyễn Thị Quỳnh Hải.

Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Mai – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 12/8/2021, tại Phòng xét xử, trụ sở Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 290/2020/TLST-DS ngày 29/12/2020 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2021/QĐXXST-DS ngày 29/6/2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 56 /2021/QĐST-DS ngày 20/7/2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1974; Địa chỉ: Buôn E, xã C, huyện K, tỉnh Đăk Lăk.

Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn: Ông Nguyễn Đình B, sinh năm 1983 (Theo văn bản ủy quyền ngày 15/12/2020); Địa chỉ: Số 865A Hùng V, phường T, thị xã B, tỉnh Đăk Lăk. Có mặt.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1967; Địa chỉ: Số 46 Hùng V, tổ dân phố Tân L 1, phường Đ, thị xã B, tỉnh Đăk Lăk. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Đình B trình bày: Giữa bà H và bà Nguyễn Thị Kim C có mối quan hệ là người quen biết; Vào năm 2019, bà C có vay của bà H tổng số tiền là 563.000.000 đồng (Năm trăm sáu mươi ba triệu đồng). Các lần vay và thời hạn trả nợ cụ thể như sau:

Ngày 7/3/2019, vay số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng). Thời hạn trả nợ chậm nhất là 03 tháng kể từ ngày vay;

Ngày 3/4/2019, vay thêm số tiền 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng). Thời hạn trả nợ chậm nhất là 03 tháng, tính từ ngày vay.

Ngày 16/4/2019, vay tiếp số tiền 263.000.000đ (Hai trăm sáu mươi ba triệu đồng). Thời hạn trả nợ chậm nhất là 01 tháng, tính từ ngày vay.

Cả ba lần vay nói trên, lãi suất đều do hai bên thoả thuận bằng miệng theo quy định của pháp luật. Quá trình vay hai bên có lập giấy vay tiền viết tay và không cầm cố, thế chấp tài sản gì. Tuy nhiên, đến nay đã quá hạn trả nợ, mặc dù bà H đã nhiều lần yêu cầu bà C trả số tiền nói trên cho bà nhưng bà C cố tình chây ỳ, trốn tránh không chịu trả nợ cho bà H như đã thỏa thụân. Tại đơn khởi kiện bà H yêu cầu bà C trả tổng số tiền là 733.772.000đ, Trong đó: Nợ gốc là 563.000.000đ, nợ lãi là 170.772.000đ, tiền lãi tính từ ngày nghĩa vụ bị vi phạm đến ngày khởi kiện ngày 15/12/2020 với lãi suất 20%/năm.

Nay tại phiên toà bà H thay đổi một phần nội dung khởi kiện đề nghị toà án giải quyết buộc bà C phải trả cho bà H số tiền nợ gốc là 563.000.000 đồng (Năm trăm sáu mươi ba triệu đồng) và khoản lãi suất phát sinh theo quy định của pháp luật, cụ thể như sau:

Đối với khoản vay 100.000.000đ: 100.000.000đ x 10%/năm x 1 năm 6 tháng 8 ngày =553 ngày (tính từ ngày 7/6/2019, ngày vi phạm nghĩa vụ trả nợ đến ngày 15/12/2020) = 15.150.500đ.

Đối với khoản vay 200.000.000đ: 200.000.000đ x 10%/năm x 1 năm 5 tháng 12 ngày = 527 ngày (tính từ ngày 3/7/2019, ngày vi phạm nghĩa vụ trả nợ đến ngày 15/12/2020) = 28.876.500đ.

Đối với khoản vay 263.000.000đ: 263.000.000đ x 10%/năm x 1 năm 6 tháng 29 ngày = 574 ngày (tính từ ngày 16/5/2019, ngày vi phạm nghĩa vụ trả nợ đến ngày 15/12/2020) =41.359.000 đ.

Tổng cộng: yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim C phải trả cho bà H tổng số tiền là 648.386.000đ (Trong đó: Nợ gốc là 563.000.000đ, nợ lãi là 85.386.000đ), và tiếp tục tính lãi suất cho đến khi vụ án được giải quyết xong.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bị đơn bà Nguyễn Thị Kim C trình bày: Tôi và cô H là người hàng xóm, quen biết với nhau từ rất lâu, cô H làm cái số đề và từ tháng 01/2019 đến tháng 7/2019 tôi có nhắn tin ghi số đề nhiều lần với cô H để đặt số từ số điện thoại của tôi xxxxxxxxxx qua số điện thoại của cô H xxxxxxxxxx nhưng chưa cộng dồn tổng số tiền là bao nhiêu. Sau đó cô H cộng dồn và buộc tôi phải ghi giấy nợ. Tôi xác định số tiền nợ ghi trong các giấy mượn tiền có nguồn gốc xuất phát từ tiền ghi số đề chứ không phải tiền vay. Vì vậy tôi đề nghị toà án thu thập thông tin từ các số điện thoại trên qua nhà mạng Vina phone để xác minh các nội dung tin nhắn này làm căn cứ giải quyết vụ án hoặc chuyển Cơ quan Công an thị xã Buôn Hồ giải quyết theo thẩm quyền. Nay tại phiên toà tôi thừa nhận có ký và chữ ký trong giấy vay tiền là của tôi và tôi đồng ý trả số tiền gốc, không đồng ý trả số tiền lãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, các đương sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H là có căn cứ nên buộc bị đơn bà C phải trả cho bà H tổng số tiền 648.386.000đ; Trong đó: Nợ gốc là 563.000.000đ, nợ lãi là 85.386.000đ ( tiền lãi tính từ ngày nghiã vụ bị vi phạm đến ngày 15/12/2020 với mức lãi suất 10%/năm), là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên toà các bên vẫn giữ nguyên yêu cầu, ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Tranh chấp hợp đồng dân sự” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự và tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về trình tự thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử xét thấy quá trình giải quyết vụ án bị đơn, đã được thông báo thụ lý vụ án, được triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do nên không thể công khai chứng cứ, tiến hành đối chất, hoà giải được theo quy định tại Điều 205, Điều 207, Điều 208 BLTTDS. Việc bà C coá tình troán traùnh, khoâng ñeán toøa aùn ñeå giaûi quyeát vuï kieän laø töï mình töôùc ñi cuûa mình quyeàn ñöôïc phaùp luaät baûo veä quyeàn, lôïi ích hôïp phaùp cuûa coâng daân. Vì vaäy bà C phaûi gaùnh chòu haäu quaû baát lôïi veà maët phaùp lyù cuûa vieäc Toøa aùn không thể công khai chứng cứ, tiến hành đối chất, hoà giải giữa các bên theo quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Do có mối quan hệ quen biết nên bà H có cho bà C vay tiền nhiều lần, cụ thể Ngày 7/3/2019, vay số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng). Thời hạn trả nợ chậm nhất là 03 tháng kể từ ngày vay; Ngày 3/4/2019, vay thêm số tiền 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng). Thời hạn trả nợ chậm nhất là 03 tháng, tính từ ngày vay. Ngày 16/4/2019, vay tiếp số tiền 263.000.000đ (Hai trăm sáu mươi ba triệu đồng). Thời hạn trả nợ chậm nhất là 01 tháng, tính từ ngày vay, lãi suất các lần vay do các bên tự thoả thuận, nhưng không lập thành văn bản.

Đã quá hạn trả nợ theo thoả thuận, mặc dù nhiều lần yêu cầu trả nợ nhưng bà C cố tình trốn tránh không trả và cũng không đến toà để giải quyết.

Như vậy việc bà H khởi kiện yêu cầu bà C phải trả cho bà H số tiền đã vay và lãi suất với tổng số tiền là 648.386.000đ; Trong đó: Nợ gốc là 563.000.000đ, nợ lãi là 85.386.000đ cụ thể: [-100.000.000đ x 10%/năm x 1 năm 6 tháng 8 ngày (tính từ ngày 7/6/2019 ngày vi phạm nghĩa vụ trả nợ đến ngày 15/12/2020) = 15.150.500đ; - 200.000.000đ x 10%/năm x 1 năm 5 tháng 12 ngày (tính từ ngày 3/7/2019 ngày vi phạm nghĩa vụ trả nợ đến ngày 15/12/2020) = 28.876.500đ; - 263.000.000đ x 10%/năm x 1 năm 6 tháng 29 ngày (tính từ ngày 16/5/2019 ngày vi phạm nghĩa vụ trả nợ đến ngày 15/12/2020) =41.359.000 đ]. Là có căn cứ phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, sự thừa nhận của các bên, và kết quả cung cấp chứng cứ của cơ quan có thẩm quyền (nhà mạng Vina phone) nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 463, khoản 1 Điều 466 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Xét khai nại của bị đơn bà Nguyễn Thị Kim C tại bản tự khai, đơn đề nghị toà án thu thập chứng cứ và tại phiên toà HĐXX xét thấy: Tại công văn số 1650/VNPT-KTPCTT-TL ngày 06/4/2021 của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt nam phúc đáp quyết định thu thập chứng cứ số 03/2021/QĐ-CCTLCC ngày 30/3/2021 của TAND thị xã Buôn Hồ nêu rõ: chủ thuê bao số điện thoại xxxx.xxx.xxx là bà Nguyễn Thị Kim C; chủ thuê bao số điện thoại xxxx.xxx.xxx là ông Nguyễn Thành T, cho nên số điện thoại này không phải của bà H; Đối với nội dung tin nhắn giữa hai số điện thoại trên hiện không được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu của tập đoàn do đó không có số liệu để cung cấp cho toà án. Đồng thời khi thực hiện giao dịch dân sự bà C là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, thừa nhận có ký tên vào giấy vay tiền, nhưng không có căn cứ cho rằng việc ký giấy vay tiền là ngoài ý muốn hay do bị ép buộc, ngoài các yêu cầu trên thì bà C cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ khác để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp cũng như phản bác yêu cầu của người khác, việc trình bày về thời gian nợ tiền có mâu thuẩn tại các giấy vay tiền thể hiện trong tháng 3 và tháng 4/2019, còn bà C cho rằng số tiền này là tiền ghi số đề từ tháng 01 đến tháng 7/2019, nên không có cơ sở để chấp nhận, do đó bà C phải tự chịu hậu quả pháp lý trên cơ sở chứng cứ tài liệu do nguyên đơn cung cấp quy định tại khoản 1 khoản 2 Điều 91, Điều 93, Điều 94, Điều 95, Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên nguyên đơn bà H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Bị đơn bà C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 khoản 2 Điều 91, Điều 93, Điều 94, Điều 95, Điều 96, Điều 144; Điều 147; Điều 205, Điều 207, Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 463, khoản 1 Điều 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H, buộc bà Nguyễn Thị Kim C phải có nghĩa vụ trả cho bà H tổng số tiền là 648.386.000đ; Trong đó: Nợ gốc là 563.000.000đ, nợ lãi là 85.386.000đ (tiền lãi tính từ ngày nghiã vụ bị vi phạm đến ngày 15/12/2020 với mức lãi suất 10%/năm).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thoả thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thoả thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS 2015.

2.Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim C phải chịu 29.935.440đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho bà Trần Thị H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 16.675.000 đồng theo biên lai thu số AA/2019/0018057 ngày 29/12/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.

Baùo cho các bên đương sự có mặt coù quyeàn khaùng caùo aùn sô thaåm trong thời haïn 15 ngaøy keå töø ngaøy tuyeân aùn sô thaåm;

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ