- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thái H phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2020/HS-ST Ngày: 31- 7-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Tú
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thu Hương và bà Đinh Thu Thanh
- Thư ký Tòa án: Ông Phạm Việt Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Phương Thúy – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2020/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Thái H – Sinh ngày 12/10/1986 tại tỉnh V; Nơi cư trú: Tổ 19, phường Tr, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Đại lý bán vé xổ số; Trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu Đ (đã chết) và bà Phạm Thị T; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
+ Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 144 ngày 30/8/2012 của Công an phường Tr, thị xã T xử phạt 500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”
+ Tại Quyết định số 175 ngày 19/01/2006 của UBND tỉnh Ninh Bình về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, thời hạn 24 tháng;
+ Ngày 12/01/2004, Công an thị xã T ra quyết định xử phạt 100.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/5/2020 đến ngày 07/5/2020 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 28a/2020/HSST-LCĐKNCT ngày 08 tháng 7 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trương Văn H1 – Sinh năm 1992; vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Tr, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa;
- Anh Vũ Văn Đ – Sinh năm 1991; vắng mặt. Địa chỉ: Tổ 22, phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình;
- Người chứng kiến: Ông Phạm Văn Q - sinh năm: 1955.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thái H ký hợp đồng đại lý bán vé xổ số cho công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên xổ số kiến thiết Miền Bắc, tỉnh Ninh Bình, chi nhánh T. Hàng ngày H ngồi tại vỉa hè của đường Ng thuộc thôn 4C xã Đ, thành phố T bán xổ số cho công ty; lợi dụng việc bán xổ số H tự đứng ra ghi bán số lô, số đề trái phép cho người mua để thu lời bất chính. H thống nhất với người mua: đối với số đề người mua 1.000 đồng, nếu trúng H phải trả 70.000 đồng; đối với số lô người mua 01 điểm là 23.000 đồng, nếu trúng H phải trả 80.000 đồng. H sử dụng bút bi ghi các số lô, số đề bán cho người mua vào tờ giấy trắng để đưa cho người mua (gọi là tờ cáp lô đề) và ghi lại các số lô, số đề đã bán vào 01 tờ giấy thếp để làm căn cứ trả thưởng cho người mua (gọi là tờ thống kê số lô, số đề).
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 05/5/2020, Nguyễn Thái H ngồi tại vỉa hè của đường Ng thuộc thôn 4C xã Đ, thành phố T để bán vé sổ xố nhà nước và bán số lô, số đề trái phép. Đến khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày có 01 nam thanh niên H không biết tên tuổi, địa chỉ đến gặp H hỏi mua số đề; H đồng ý bán cho người này số đề 81 với số tiền 20.000 đồng, số đề 87 với số tiền 50.000 đồng, tổng tiền là 70.000 đồng. H ghi cáp đề và nhận đủ số tiền 70.000 đồng rồi ghi 02 số đề vừa bán được vào tờ thống kê số lô, số đề ngày 05/5/2020 và đưa cáp đề cho người thanh niên.
Đến 17 giờ 20 phút cùng ngày, Trương Văn H1 đến gặp Nguyễn Thái H hỏi mua số lô, số đề; H đồng ý bán cho H1 số lô 92, 79, 56, 94 mỗi số 50 điểm, số đề 92, 56, 78 mỗi số 11.000 đồng, tổng tiền là 4.633.000 đồng. H dùng bút bi nhãn hiệu Thiên Long, mực xanh ghi các số lô, số đề bán cho H1 vào 02 tờ cáp lô đề và thu số tiền 4.633.000 đồng của H1. Sau đó H ghi các số lô, số đề vừa bán cho H1 vào tờ thống kê số lô, số đề ngày 05/5/2020 rồi đưa 02 tờ cáp cho H1. Cùng lúc này có Vũ Văn Đ cũng đến gặp H hỏi mua số lô; H đồng ý bán cho Đ số lô 62 (30 điểm), tổng tiền là 690.000 đồng. H viết cáp lô và nhận số tiền 690.000 đồng của Đ rồi ghi số lô Đ vừa mua vào tờ thống kê số lô, số đề ngày 05/5/2020 và đưa cáp lô cho Đ. Đúng lúc này tổ công tác Công an thành phố T đến bắt quả tang; thu giữ của Nguyễn Thái H tổng số tiền 6.320.000 đồng, trong đó có tổng số tiền 5.323.000 đồng H thu được từ bán số lô, đề cho H1 và Đ; 01 tờ giấy thống kê số lô, số đề kích thước (24x17)cm, loại giấy thếp nhãn hiệu Minh Châu, trên tờ giấy có ghi các số lô, số đề H bán được ngày 05/5/2020 với tổng số tiền 5.393.000 đồng, trong đó có các số lô, số đề H vừa bán cho H1 và Đ; 01 bút bi nhãn hiệu Thiên Long, mực xanh; thu giữ của Trương Văn H1 02 tờ cáp lô, đề cùng kích thước (10x6,9)cm và đều ghi ngày 05/5/2020, trong đó 01 tờ ghi 04 số lô, 01 tờ ghi 03 số đề H1 vừa mua của H; thu giữ của Vũ Văn Đ 01 tờ cáp lô, kích thước (10x6,9)cm, có ghi ngày 05/5/2020 và 01 số lô Đ vừa mua của H.
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thái H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Cáo trạng số 45/CT – VKS ngày 07 tháng 7 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Thái H ra trước Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp để xét xử về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tại phiên tòa sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, xem xét hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái H phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm i và s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự ;
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái H từ 09 (chín) đến 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ đi 03 ngày tạm giữ chuyển đổi thành 09 (chín) ngày cải tạo không giam giữ Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường Tr, thành phố T, tỉnh Ninh Bình nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Khấu trừ 5% đến 10% thu nhập của bị cáo Nguyễn Thái H trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thái H từ 10.000.000đ (Mười triệu) đến 15.000.000đ (Mười lăm triệu) để nộp ngân sách nhà nước.
Giao bị cáo Nguyễn Thái H cho Ủy ban nhân dân phường Tr, thành phố T, tỉnh Ninh Bình là nơi bị cáo thường trú, giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 36 của Bộ luật Hình sự thì người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.
- Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 5.393.000 đồng (Trong đó 5.323.000đ là tiền mà bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sử dụng vào việc đánh bạc; 70.000đ là tiền mà Nguyễn Thái H đã bán số đề cho khách qua đường.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc bút bi màu xanh, mực màu xanh nhãn hiệu Thiên Long đã thu giữ của Nguyễn Thái H sử dụng vào việc ghi số lô, số đề.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thái H số tiền 927.000 đồng
Trong quá trình điều tra, ông Phạm Văn Q trình bày: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 05/5/2020 ông được cơ quan Công an thành phố T mời đến chứng kiến việc cơ quan Công an lập biên bản bắt quả tang hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề của anh Nguyễn Thái H, Trương Văn H1 và Vũ Văn Đ. Tại chỗ các anh này thừa nhận hành vi mua bán số lô, số đề của mình . Cơ quan Công an đã thu giữ của anh H số tiền 6.320.000 đồng. 01 bảng đề, 01 bút bi mực màu xanh. Thu giữ của anh H1 02 cáp lô đề có ghi các số lô, số đề mà anh H vừa bán cho anh H1, thu giữ của anh Đ 01 tờ cáp có ghi số lô mà anh H vừa bán cho anh Đ sau đó Cơ quan công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thái H.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi bị truy tố như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trương Văn H1 và Vũ Văn Đ, phù hợp với tang vật đã thu giữ. Mặt khác được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 05/5/2020, tại thôn 4C, xã Đ, thành phố T, H bán trái phép cho Trương Văn H1 04 số lô và 03 số đề với số tiền 4.633.000 và bán trái phép cho Vũ Văn Đ 01 số lô với số tiền 690.000 đồng; tổng số tiền H bán số lô, số đề trái phép cho H1 và Đ là 5.323.000 đồng thì bị Công an thành phố T bắt quả tang đã phạm vào tội đánh bạc. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự “ Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Từ căn cứ trên thấy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp truy tố bị cáo Nguyễn Thái H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng pháp luật
Hành vi phạm tội của bị cáo xảy ra tại nơi tập trung đông dân cư, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn xã Đ nói riêng và trên địa bàn thành phố T nói chung. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật và có mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục cải tạo bị cáo đồng thời góp phần phòng ngừa chung.
Đối với bị cáo Nguyễn Thái H là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc nhằm mục đích tạo ra thu nhập bất chính bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc đủ để giáo dục cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Về nhân thân: Bị cáo đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và trộm cắp tài sản.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, căn cước lý lịch rõ ràng, hành vi của bị cáo Nguyễn Thái H ít nghiêm trọng. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 36 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bằng hình phạt cải tạo không giam giữ để bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ để giáo dục cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội là thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”. Do đó cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thái H là phù hợp với quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng khấu trừ thu nhập 5% trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Nguyễn Thái H.
Trong vụ án này, đối với anh Trương Văn H1 mua số lô, số đề của Nguyễn Thái H tổng tiền 4.633.000 đồng; anh Vũ Văn Đ mua số lô với tổng tiền 690.000 đồng; bản thân anh H1 và anh Đ không có tiền án, tiền sự về tội “Đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” nên hành vi của anh H1 và anh Đ là vi phạm hành chính. Ngày 26/5/2020, Công an thành phố T đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với anh Trương Văn H1 và anh Vũ Văn Đ là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với người thanh niên mua 02 số đề của Nguyễn Thái H với số tiền 70.000 đồng; H khai không biết tên tuổi và địa chỉ của người này. Do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp không có cơ sở để điều tra, xử lý.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
Đối với 01 tờ thống kê số lô, số đề đã thu giữ của Nguyễn Thái H và 02 tờ cáp lô, đề đã thu giữ của anh Trương Văn H1 và 01 tờ cáp đề đã thu giữ của anh Vũ Văn Đ. Những chứng cứ này đã được lưu trong hồ sơ vụ án để làm căn cứ xử lý đối với bị cáo.
Đối với số tiền 5.323.000 đồng thu giữ của bị cáo đây là số tiền mà bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước là phù hợp với điểm b, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Đối với số tiền 70.000 đồng là tiền mà bị cáo thu được từ việc bán số lô, số đề cho khách qua đường Cơ quan điều tra không xác định được là bị cáo đã bán cho ai do vậy số tiền này cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- Đối với 01 (một) chiếc bút bi mực màu xanh nhãn hiệu Thiên Long không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm a, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với số tiền 927.000 đồng Cơ quan điều tra Công an thành phố T đã thu giữ của Nguyễn Thái H. Quá trình điều tra xác định số tiền này là tiền hợp pháp của bị cáo H không liên quan đến hành vi đánh bạc, do vậy cần trả lại cho bị cáo Nguyễn Thái H là phù hợp điểm a, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321; Các điểm i và s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
1/ Tuyên bố:
Bị cáo Nguyễn Thái H phạm tội: Đánh bạc.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái H 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ được trừ đi 03 (ba) ngày tạm giữ chuyển đổi thành 09 (chín) ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo còn phải chấp hành 8 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường Tr, thành phố T, tỉnh Ninh Bình nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Khấu trừ 5% thu nhập của bị cáo Nguyễn Thái H trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng.
Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thái H 10.000.000đ (Mười triệu) đồng để nộp ngân sách nhà nước.
Giao bị cáo Nguyễn Thái H cho Ủy ban nhân dân phường Tr, thành phố T, tỉnh Ninh Bình là nơi bị cáo thường trú, giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 36 của Bộ luật Hình sự thì người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.
2/ Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 5.393.000 đồng (Trong đó 5.323.000đ là tiền mà bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sử dụng vào việc đánh bạc; 70.000 đồng là tiền mà Nguyễn Thái H đã bán số đề cho khách qua đường).
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc bút bi mực màu xanh nhãn hiệu Thiên Long vỏ bút bằng nhựa hình trụ tròn có chiều dài 13 cm, đường kính lớn nhất 1 cm đã thu giữ của Nguyễn Thái H sử dụng vào việc ghi số lô, số đề.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thái H số tiền 927.000 đồng
Những vật chứng trên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T theo theo giấy ủy nhiệm chi ngày 09 tháng 7 năm 2020 và biên bản giao nhận vật chứng ngày 17 tháng 7 năm 2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T.
3/ Về án phí:
Buộc bị cáo Nguyễn Thái H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình - Sở tư pháp - VKSND TP. Tam Điệp; - Cơ quan CSĐT và Cơ quan thi hành án hình sự TP. Tam Điệp; - Chi cục THADS TP. Tam Điệp; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu: hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Vũ Ngọc Tú |