vanban.org

Bản án 43/2020/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Sơn La Tuyên án 14/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Sồng A G phạm các tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng và tội Chống người thi hành công vụ.

Xử phạt bị cáo Sồng A G 01 (một) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, 01 (một) năm tù về tội Chống người thi hành công vụ. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả ba tội là 03 (ba) năm 06 (… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sồng A G - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Sồng A G phạm các tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng và tội Chống người thi hành công vụ.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2020/HSST
Ngày 14 - 5 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tòng Thị Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Sơn, bà Bùi Thị Đào.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đà Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 03 năm 2020 đối với bị cáo:

Sồng A G, tên gọi khác: không, sinh năm 1988 tại Vân Hồ, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản C, xã L, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: trồng trọt; trình độ văn hóa: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mông; tôn giáo: không; giới tính: nam; đảng phái, đoàn thể: không; con ông: H (đã chết); con bà: C; có vợ là D; có 02 con (con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2009). Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo ra đầu thú ngày 09 tháng 9 năm 2019 được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Hàng Y H, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Bản C, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La, có mặt.

Người làm chứng: S, sinh năm 1977, hiện đang chấp hành án tại trại giam Yên Hạ - Bộ Công an, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sồng A G trú tại Bản C, xã L, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, ngày 26/8/2008 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La ra quyết định truy nã về tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng quy định tại Điều 230 Bộ luật Hình sự 1999; ngày 23/01/2013 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC04) Công an tỉnh Sơn La ra quyết định truy nã về tội Chống người thi hành công vụ quy định tại Điều 257 Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngày 09/09/2019 Sồng A G đã đến Công an huyện Vân Hồ đầu thú và khai nhận về các hành vi Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, Chống người thi hành công vụ và Tàng trữ trái phép chất ma túy như sau:

1. Hành vi Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng:

Hồi 10 giờ ngày 01/6/2008 Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Mộc Châu làm nhiệm vụ tại khu vực bản C, xã L, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La (nay là huyện Vân Hồ) nhận được tin báo tại nhà Mùa Thị C trú tại bản C, xã L, huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La đang có một số người tụ tập sử dụng trái phép chất ma túy, tổ công tác đã tiến hành kiểm tra, phát hiện Sồng A G cầm một khẩu súng AK từ trong nhà chạy ra ngoài, tổ công tác đã kịp thời khống chế, G đã bỏ lại khẩu súng AK kèm một hộp tiếp đạn (30 viên) và chạy thoát, qua kiểm tra những người có mặt trong nhà C tổ công tác phát hiện thu giữ của Mùa Thị C 02 gói Heroin có khối lượng 0,35 gam, thu giữ của Lò Văn I trú tại bản C, xã L, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La (nay là huyện Vân Hồ) 03 gói Heroine có khối lượng 2,3 gam.

Tổ công tác Công an huyện Mộc Châu (nay là huyện Vân Hồ) đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Mùa Thị C và Lò Văn I về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy thu giữ 05 gói Heroin và một khẩu súng AK có số hiệu GZ 02451 – 11- 1959 kèm 01 hộp tiếp đạn bên trong có 30 viên đạn.

Cùng ngày (01/6/2008) Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Mùa Thị C, đã phát hiện và thu giữ một túi vải màu xanh bên trong có 25 viên đạn, một gói Heroin có khối lượng 0,76 gam.

Tại Cơ quan điều tra Sồng A G khai nhận: Vào thời gian khoảng cuối tháng 5/2008 G thấy Sồng A S (bố G) đem về một khẩu súng AK kèm hộp tiếp đạn bên trong có 30 viên đạn và treo khẩu súng trên đầu giường ngủ trong phòng khách, đến khoảng 10 giờ ngày 01/6/2008 G đang ở nhà cùng mẹ là Mùa Thị C tại bản C, xã L, huyện Vân Hồ, Gàng nghe Mùa Thị C hô có công an đến, sợ bị Công an phát hiện và thu giữ khẩu súng AK G chạy vào phòng khách lấy khẩu súng mang đi cất giấu thì bị tổ công tác phát hiện, khống chế, G đã vứt lại khẩu súng và bỏ chạy thoát.

Tại bản kết luận giám định số 06/GĐSĐ ngày 07/07/2008 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:“Khẩu súng AK có số hiệu GZ 02451 – 11- 1959 và 55 viên đạn ký hiệu 65-81 và 66-81 là vũ khí quân dụng, tình trạng kỹ thuật của Súng, đạn còn tính năng tác dụng”.

Về nguồn gốc khẩu súng AK có số hiệu GZ 02451 – 11- 1959 và 55 viên đạn ký hiệu 65-81 và 66-81 thu giữ trong vụ án Sồng A G và Mùa Thị C khai là của Sồng A S (bố G) đem về nhà cất giữ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La điều tra xác minh đối tượng Sồng A S đã chết ngày 29/12/2017 do bị tai nạn giao thông. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã có công văn số 88/PC04 ngày ngày 09/12/2019 gửi Cục Trang bị và Kho vận Bộ Công an; Cục Quân khí, Tổng cục kỹ thuật, Bộ Quốc phòng; Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Sơn La; Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Sơn La; Chi cục Kiểm lâm tỉnh Sơn La rà soát việc quản lý cấp phát khẩu súng và số đạn nêu trên. Kết quả Cục Trang bị và Kho vận Bộ Công an; Cục Quân khí, Tổng cục kỹ thuật, Bộ Quốc phòng; Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Sơn La; Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Sơn La; Chi cục Kiểm lâm tỉnh Sơn La đều không quản lý cấp phát khẩu súng AK có số hiệu GZ 02451 – 11- 1959 và 55 viên đạn ký hiệu 65-81 và 66-81 đã thu giữ trong vụ án. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra không xác định được nguồn gốc của khẩu súng và số đạn đã thu giữ.

Đối với hành vi của Sồng A S có dấu hiệu của tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng nhưng do Sồng A S đã chết nên Cơ quan tố tụng không truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đối với hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của Mùa Thị C và Lò Văn I đã bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu xét xử tại bản án số 54/2008/HSST ngày 26/11/2008 tuyên phạt Lò Văn I 42 tháng tù, Mùa Thị C 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy và Chống người thi hành công vụ.

Hồi 17 giờ ngày 01/12/2012, tổ công tác của Công an huyện Mộc Châu làm nhiệm vụ tại khu vực bản C, xã L, phát hiện trong nhà kho của Mùa A S có nhiều đối tượng đang tụ tập sử dụng trái phép chất ma túy, tổ công tác tiến hành kiểm tra thì có tiếng súng bắn từ trong nhà kho về phía tổ công tác, tổ công tác kêu gọi các đối tượng hạ vũ khí đầu hàng thì có Mùa A S, Nguyễn Văn L, Sồng A C từ nhà kho đi ra trình diện và khai nhận người dùng súng bắn về phía tổ công tác là Sồng A G, hiện S đang cất giấu ma túy trong phòng ngủ của S. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Mùa A S vật chứng thu giữ 21 túi nilon chứa 4.200 viên nén màu hồng (trọng lượng 394,59 gam), kết luận giám định là chất ma túy Methamphetamine. Còn G tiếp tục cố thủ, sau đó lợi dụng đêm tối trốn thoát.

Ngày 02/12/2012, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu tổ chức khám nghiệm hiện trường tại nhà kho của Mùa A S đã phát hiện thu giữ trên nền nhà kho 04 vỏ đạn; 02 đầu đạn bằng kim loại màu vàng đã biến dạng, 02 viên đạn chưa sử dụng; 01 túi nilon bên trong có 13 viên nén màu hồng (cân tịnh có trọng lượng 1,25 gam). Kết luận giám định số 3957 ngày 28/12/2012 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận là chất ma túy Methamphetamine. Kết luận giám định số 3968/C54 ngày 11/12/2012 của Viện khoa học hình sự Bộ công an kết luận 04 vỏ đạn, 02 viên đạn và hai đầu đạn là loại đạn quân dụng cỡ 6,35x15,5mm dùng cho các loại súng ngắn Volte, Brwoning, Cz….

Quá trình điều tra Mùa A S khai nhận về số 21 túi nilon chứa 4.200 viên Methamphetamine có trọng lượng 394,59 gam đã nộp cho Cơ quan điều tra ngày (01/12/2012). Sáng ngày 25/11/2012 Mùa A S đi làm giàn su su gần nhà Sồng A G (G là cậu của S), G nhờ S gọi điện cho Giàng Thị H trú tại Thung Mạn, Mai Châu, Hòa Bình hỏi mua chịu 10 túi hồng phiến để G bán lãi sẽ chia cho Sào, sau đó G bấm số điện thoại của H rồi đưa điện thoại cho S nói chuyện với Hại, S đặt vấn đề hỏi mua chịu của H 21 túi hồng phiến H đồng ý, ngày 01/12/2012 G đi xe máy đến nhà Sa, Ha gọi điện bảo S ra cây xăng Lóng Luông nhận ma túy, G đi xe máy ra cây xăng Lóng Luông nhận 21 túi hồng phiến đem về đưa cho S cất giấu còn G đi về nhà, đến khoảng 15 giờ cùng ngày G đến nhà S nói tý nữa có Lý (Nguyễn Văn L trú tại bản C, xã L, huyện Vân Hồ) đến mua ma túy sau đó G đi xuống nhà kho của gia đình S đợi L, một lúc sau L đến nhà S, S dẫn L xuống nhà kho gặp G, G lấy 06 viên hồng phiến ra cùng S, L sử dụng trong lúc đang sử dụng có Sồng A C (em vợ S) đến cùng sử dụng. Khi 04 người đang sử dụng ma túy trong kho thì thấy có Công an đến kiểm tra, G đã dùng súng ngắn bắn 02 phát đạn vào tường nhà kho được xây bằng gạch, khi nghe tổ công tác kêu gọi đầu hàng, S, L, C đã đi ra đầu hàng còn G vẫn cố thủ và bắn tiếp hai phát đạn.

Tại Cơ quan điều tra, G khai nhận: Khoảng tháng 12/2012, Sồng A G đi bẫy chuột trong rừng thuộc bản C, xã L huyện Vân Hồ, G nhặt được một khẩu súng ngắn trong băng có đạn, G không biết là súng gì G đem về nhà cất giấu đến ngày 01/12/2012, G bỏ khẩu súng vào cốp xe máy rồi đi đến nhà Mùa A S trú tại bản C, xã L, huyện Vân Hồ mục đích để hỏi S xem có biết là loại súng gì không. Trên đường đi G mua 20 viên hồng phiến với giá 20.000đ/1 viên của một người đàn ông không quen đem đến nhà Sào, không thấy Sào ở nhà nên G đi xuống nhà kho của S ngồi uống nước, một lúc sau Sào cùng với Sồng A C, Nguyễn Văn L đến, G bỏ 07 viên hồng phiến ra cùng S, C, L sử dụng, trong lúc 04 người đang sử dụng ma túy thấy có Công an đến kiểm tra, G lấy khẩu súng ngắn đã nhặt được bắn vào tường nhà kho được xây bằng gạch hai phát đạn. Tổ công tác vận động, yêu cầu hạ vũ khí đầu hàng, Mùa A S, Sồng A C, Nguyễn Văn L đi ra khỏi nhà kho còn G vẫn cố thủ trong nhà kho tiếp tục bắn tiếp 02 phát đạn chỉ thiên để đe dọa không cho tổ công tác vào kiểm tra. Chờ đến khi trời tối thấy tổ công tác rút khỏi nhà S, G vứt lại túi hồng phiến (13 viên) và hai viên đạn chưa sử dụng chạy ra ngoài bỏ trốn vào rừng trên đường bỏ trốn G đã làm rơi mất khẩu súng ngắn.

Sồng A G không thừa nhận đã mua bán 21 túi nilon chứa 4.200 viên Methamphetamine có trọng lượng 394,59 gam như S đã khai.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác minh đối với Giàng Thị H trú tại bản Thung Mạn, xã Hang Kia, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình, kết quả tại bản Thung Mạn, xã Hang Kia, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình không có ai là Giàng Thị H, Nguyễn Văn L không thừa nhận đến nhà S là để mua ma túy như S đã khai. Ngoài lời khai của Mùa A S, không còn chứng cứ khác để chứng minh, do đó không đủ căn cứ buộc G phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép 21 túi nilon chứa 4.200 viên Methamphetamine có trọng lượng 394,59 gam.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn L và Sồng A C không cấu thành tội phạm, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với hành vi cho G, C, L sử dụng ma túy trong kho của Mùa A S, xét thấy Mùa A S là người nghiện ma túy cho người nghiện ma túy khác cùng sử dụng ma túy tại nhà không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 256 Bộ luật Hình sự.

Đối với hành mua bán trái phép chất ma túy của Mùa A S đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử tại bản án số 88/2013/HSST ngày 06/09/2013 tuyên phạt 20 năm tù giam.

Về nguồn gốc của 13 viên Methamphetamine có khối lượng 1,25 gam thu giữ trong vụ án: G khai mua của một người không quen biết do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ.

Đối với hành vi sử dụng súng bắn đạn quân dụng G đã bắn đe dọa nhằm ngăn cản lực lượng Công an huyện Mộc Châu thực thi nhiệm vụ. Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ được vật chứng (súng) nên không xác định được loại súng. Đối với 02 viên đạn quân dụng chưa sử dụng thu tại hiện trường, số lượng ít chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Sồng A G về tội Tàng trữ sử dụng trái phép vũ khí quân dụng theo Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 ở hành vi này.

Tại bản Cáo trạng số 24/VKS-P1 ngày 24/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Sồng A G về các tội: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng; tội Chống người thi hành công vụ và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 304; khoản 1 Điều 330; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015

* Tại phiên tòa:

- Bị cáo Sồng A G khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo của bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án chị Hàng Y H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe máy cho gia đình.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ quan điểm truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Sồng A G phạm ba tội: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng; tội Chống người thi hành công vụ và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 304, khoản 1 Điều 330, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015: Xử phạt bị cáo Sồng A G từ 12 (mười hai) đến 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; từ 30 (ba mươi) đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng; từ 12 (mười hai) đến 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội Chống người thi hành công vụ.

Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự 2015 tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả ba tội là 54 (năm mươi tư) đến 78 (bảy mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định chung.

Bị cáo Sồng A G đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, đã thể hiện: Ngày 01/6/2008, Sồng A G đã có hành vi tàng trữ một khẩu súng quân dụng (AK) kèm một hộp tiếp đạn 30 viên đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu thu giữ. Ngày 01/12/2012 G mua 20 viên ma túy mang đến kho của Mùa A S cùng Mùa A P, Sồng A C, Nguyễn Văn L sử dụng, trong lúc đang sử dụng ma túy thấy có Công an đến kiểm tra, G lấy khẩu súng bắn 04 phát đạn để đe dọa, ngăn cản Tổ công tác Công an huyện Mộc Châu vào thực thi nhiệm vụ. Sau đó G bỏ lại trong kho của Sào một túi nilon chứa 13 viên Methamphetamine có khối lượng 1,25 gam và bỏ trốn đến ngày 09/9/2019 Sồng A G đã đến Công an huyện Vân Hồ đầu thú.

Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các tài liệu, căn cứ sau:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 10 giờ ngày 01/6/2008 của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Mộc Châu làm nhiệm vụ tại khu vực bản C, xã L, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La (nay là huyện Vân Hồ) nhận được tin báo tại nhà Mùa Thị C trú tại bản C, xã L, huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La đang có một số người tụ tập sử dụng trái phép chất ma túy, tổ công tác đã tiến hành kiểm tra, phát hiện Sồng A G cầm một khẩu súng AK từ trong nhà chạy ra ngoài, tổ công tác đã kịp thời khống chế, Gàng đã bỏ lại khẩu súng AK kèm một hộp tiếp đạn (30 viên) và chạy thoát, qua kiểm tra những người có mặt trong nhà C tổ công tác phát hiện thu giữ của Mùa Thị C 02 gói Heroin có khối lượng 0,35 gam, thu giữ của Lò Văn I trú tại bảnC, xã L, huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La (nay là huyện Vân Hồ) 03 gói Heroine có khối lượng 2,3 gam. Tổ công tác Công an huyện Mộc Châu (nay là huyện Vân Hồ) đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Mùa Thị C và Lò Văn I về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy thu giữ 05 gói Heroin và một khẩu súng AK có số hiệu GZ 02451 - 11- 1959 kèm 01 hộp tiếp đạn bên trong có 30 viên đạn.

- Kết luận giám định số 06/GĐSĐ ngày 07/07/2008 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận. “Khẩu súng AK có số hiệu GZ 02451 – 11- 1959 và 55 viên đạn ký hiệu 65-81 và 66-81 là vũ khí quân dụng, tình trạng kỹ thuật của súng, đạn còn tính năng tác dụng.

- Kết luận giám định số 3957 ngày 28/12/2012 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận chất gửi giám định là chất ma túy loại chất Methamphetamine.

- Kết luận giám định số 3968/C54 ngày 11/12/2012 của Viện Khoa học hình sự Bộ công an kết luận 04 vỏ đạn, 02 viên đạn và hai đầu đạn là loại đạn quân dụng cỡ 6,35x15,5mm dùng cho các loại súng ngắn Volte, Brwoning, Cz...

- Quyết định truy nã số 11 ngày 26 tháng 8 năm 2008 của Cơ quan điều tra công an huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La đối với Sồng A G về hành vi Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng.

- Quyết định truy nã số 02/PC47 ngày 23 tháng 01 năm 2013 của cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La đối với Sồng A G về hành vi Chống người thi hành công vụ và Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú/đầu thú vào hồi 15 giờ 10 phút ngày 9 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Công an huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La đối với bị cáo Sồng A G.

Với các căn cứ như đã nêu trên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Sồng A G phạm các tội: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, tội Chống người thi hành công vụ và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại các Điều 249, 304, 330 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Xét thấy các hành vi phạm tội của bị cáo đều được thực hiện vào thời điểm Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi năm 2009) đang có hiệu lực thi hành, tuy nhiên theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự 2015 quy định điều luật mới quy định về một hình phạt nhẹ hơn có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành. Vì vậy cần áp dụng các quy định pháp luật tại Bộ luật Hình sự 2015 hiện hành đối với các hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện.

Bị cáo Sồng A G có hành vi tàng trữ 13 viên ma túy có tổng khối lượng 1,25 gam, loại chất Methamphetamine đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy “Heroin, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 01 gam đến dưới 05 gam” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 có mức hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.

Bị cáo Sồng A G cùng với các đối tượng S, L, C đang sử dụng ma túy trong kho nhà S thì thấy có Công an đến kiểm tra, G đã dùng súng ngắn bắn 02 phát đạn vào tường nhà kho được xây bằng gạch, khi nghe Tổ công tác kêu gọi đầu hàng, S, L, C đã đi ra đầu hàng còn G vẫn cố thủ và bắn tiếp hai phát đạn quân dụng, đe dọa nhằm ngăn cản lực lượng công an thực thi nhiệm vụ. Hành vi của bị cáo đã phạm tội Chống người thi hành công vụ, khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự quy định “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”

Hành vi Tàng trữ vũ khí quân dụng: Tháng 5/2008 G thấy Sồng A S (bố G) đem về một khẩu súng AK kèm hộp tiếp đạn bên trong có 30 viên đạn và treo khẩu súng trên đầu giường ngủ trong phòng khách, đến khoảng 10 giờ ngày 01/6/2008 G đang ở nhà cùng mẹ là Mùa Thị C tại bản C, xã L, huyện Vân Hồ, G nghe Mùa Thị C hô có công an đến, sợ bị công an phát hiện và thu giữ khẩu súng AK G chạy vào phòng khách lấy khẩu súng mang đi cất giấu thì bị tổ công tác phát hiện, khống chế, G đã vứt lại khẩu súng và bỏ chạy thoát, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ vũ khí quân dụng, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự “Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm tù”.

Do bị cáo phạm nhiều tội cần căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi ra đầu thú bị cáo Sồng A G thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có ông nội là người có công với Nhà nước được tặng thưởng Huân huy chương kháng chiến chống Mỹ là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét về tính chất, mức độ, phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo đã đi ngược lại với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật nhà nước về đấu tranh phòng, chống ma túy, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn và các tội phạm khác trong xã hội, hành vi tàng trữ vũ khí quân dụng và chống người thi hành công vụ của bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và xã hội. Vì vậy cần lên một mức án tương xứng với từng hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung (phạt tiền) theo quy định tại khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 304 Bộ luật Hình sự, song xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có tài sản có giá trị nên cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng của vụ án:

Đối với súng AK số hiệu GZ 02451-11-1959 và 55 viên đạn mang ký kiệu 65-81 và 66-81 đã được giải quyết tại bản án hình sự sơ thẩm số 54/2008/HSST ngày 26/11/2008 của Tòa án nhân huyện Mộc Châu khi xét xử Mùa Thị C và Lò Văn I.

Đối với số 0,96 gam Methamphetamie còn lại sau khi đã giám định, xét thấy là loại Nhà nước cấm lưu hành cùng 1 số tài sản khác không có giá trị sử dụng cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 02 viên đạn thu giữ tại nhà Mùa A S, cần tịch thu và giao cho Công an tỉnh Sơn La quản lý theo quy định.

Đối với Chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA AIRBLADE biển kiểm soát 26K7- 8885 thu giữ tại nhà Mùa A S. Qúa trình điều tra xác định bị cáo Sồng A G đã mượn của em dâu là Hàng Y H để đi đến nhà Mùa A S, việc Sồng A G sử dụng chiếc xe máy trên thực hiện hành vi phạm tội Hàng Y H không biết, chị H có đơn xin lại chiếc xe máy trên xét là có căn cứ, cần chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 điều 304, khoản 1 điều 330, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Sồng A G phạm các tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng và tội Chống người thi hành công vụ.

Xử phạt bị cáo Sồng A G 01 (một) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, 01 (một) năm tù về tội Chống người thi hành công vụ. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả ba tội là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại thụ hình.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo

[2] Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tuyên tịch thu tiêu hủy:

+ 0,96 gam Methamphetamine (được niêm phong trong 01 phong bì do bưu điện phát hành còn nguyên niêm phong)

+ 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ nhãn hiệu TATYO; 01 mảnh giấy bạc bị cháy sém; 01 chiếc tẩu tự chế dài 45 cm, phần trên của tẩu làm bằng nhựa, hình ống, phần dưới tẩu bằng thủy tinh phình to, tẩu đã qua sử dụng, 02 đầu đạn bằng kim loại màu đen xám đã biến dạng, đầu đạn đã qua sử dụng; 04 Vỏ đạn bằng kim loại màu vàng, kích thước 1,5cm x 0,65cm đã qua sử dụng, thu giữ khi khám nghiệm hiện trường tại nhà Mùa A S.

- Giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Sơn La quản lý theo quy định 02 viên đạn bằng kim loại màu vàng chưa qua sử dụng kích thước 2cm x 0,65cm thu giữ khi khám nghiệm hiện trường tại nhà Mùa A S.

- Trả lại cho chị Hàng Y H 01 chiếc xe mô tô hai bánh nhãn hiệu HONDA loại xe AIRBLADE, màu đen - bạc xe có biển kiểm soát 26K7 - 8885, xe có số máy JF27E-0240907, số khung 201065, xe không có chìa khóa, không có gương chiếu hậu, xe đã qua sử dụng (Hai bên giao nhận không kiểm tra máy móc thiết bị bên trong của xe). Thu giữ khi khám nghiệm hiện trường tại nhà Mùa A S.

[3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Sồng A G phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ