vanban.org

Bản án 43/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 04/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Ngọc H 01 (một) năm 6 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

* Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Thị Ngọc H phải bồi thường cho ông Phan Minh HA số tiền 20 triệu (hai mươi triệu) đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tran Thi Ngoc H phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Ngọc H 01 (một) năm 6 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  • Căn cứ chính? Điều 175 Bộ luật Hình sự; Điều 292 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 293 Bộ luật tố t ng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NHA TRANG
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2020/HS-ST
Ngày: 04/3/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Lệ

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Lý

Ông Trần Huy Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hồng Phương Thảo - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Bà Lê Đăng Phương Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2020, tại tr s Toà án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa m phiên tòa xét xử sơ thẩm v án hình sự th lý số 20/2020/HS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 36/2020/QĐXX-HS ngày 13 tháng 02 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2020/HSST-QĐ ngày 25 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Trần Thị Ngọc H, sinh năm 1995 tại Khánh Hòa; Giới tính: Nữ;

Nơi ĐKNKTT: Tổ 13 Đ, phường V, thành phố Nha Trang; Nơi : Không có nơi cư trú ổn định

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12;

Họ tên cha: Trần Ngọc A (sinh năm 1958);

Họ tên mẹ: Nguyễn Thị N (sinh năm 1962);

Chồng: Huỳnh Đinh Minh D (đã ly hôn). Có 1 con sinh năm 2016

- Tiền án, tiền sự: không;

- Nhân thân:

Bản án số 197/2012/HSPT ngày 26/11/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 21 tháng tù về tội Cướp tài sản. Ngày 04/7/2014, chấp hành xong hình phạt tù.

Ngày 24/10/2019, Trần Thị Ngọc H thực hiện hành vi trộm cắp tại khách sạn Moka, địa chỉ số 71/1 đường Dương Hiến Quyền, phường Vĩnh Hòa, thành phố Nha Trang. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Nha Trang đã kh i tố v án, kh i tố bị can.

Bị cáo bị tạm giam trong v án khác. Có mặt tại phiên tòa

* Bị hại: Ông Phan Minh H, sinh năm 1998 Địa chỉ: 51 tổ 10 S, phường V, thành phố Nha Trang. Vắng mặt (có Đơn xin xét xử vắng mặt)

* Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Xuân N, sinh năm 1989 Địa chỉ: Số 12 T, phường P, thành phố Nha Trang. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 10/6/2019, thông qua mạng xã hội Facebook, anh Phan Minh HA nhắn tin nói chuyện với Trần Thị Ngọc H, sau đó H rủ HA đi ăn tối. Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 11/6/2019, HA có đến nhà nghỉ Hoàng Tùng tại địa chỉ số 14 đường Thoại Ngọc Hầu, phường Vĩnh Hòa, thành phố Nha Trang để gặp H và ch H đi ăn. Sau khi ăn xong, trên đường về lại nhà nghỉ thì gặp “Quậy” (bạn của H, không rõ nhân thân lai lịch). HA ch Quậy và H về lại nhà nghỉ. H có rủ HA lên phòng nhưng HA không đồng ý và ra quán cà phê gần đó để uống cà phê. Sau đó, H nhắn tin cho HA là Quậy về rồi, còn H đang nhà nghỉ và rủ HA qua chơi.

Đến khoảng 03 giờ ngày 11/6/2019, HA lên phòng 402 nhà nghỉ Hoàng Tùng gặp và ngồi chơi với H. Lúc này, H có mượn của HA 01 điện thoại di động Iphone XR 128GB màu trắng để gọi điện thoại. Đầu tiên, HA m mật khẩu điện thoại cho H gọi điện thoại trong phòng. Sau đó, H cầm điện thoại của HA đi ra khỏi phòng, HA có ra theo và hỏi là tại sao H không nghe điện thoại trong phòng mà ra ngoài thì H trả lời H gọi cho bạn một chút rồi vào lại. Sau khi anh HA bước vào phòng thì H nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của anh HA nên H bấm thang máy đi xuống bộ phận lễ tân, nhờ anh Nguyễn Xuân Ninh (lễ tân của Nhà nghỉ) m cửa, rồi lên xe taxi bỏ đi mang theo chiếc điện thoại của anh HA. Do không có tiền trả tiền xe taxi, H đã cầm cố chiếc điện thoại di động Iphone XR 128GB màu trắng của anh HA mà H vừa chiếm đoạt được cho tài xế xe taxi (không rõ nhân thân, lai lịch) với số tiền 300.000 đồng.

Tại bản Kết luận định giá tài sảnsố 413/HĐĐG ngày 19/7/2019 của Hội đồng định giá trong tố t ng hình sự TP Nha Trang kết luận: 01 điện thoại Iphone 128GB XR màu trắng trị giá là 20.450.000 đồng (Bằng chữ: Hai mươi triệu, bốn trăm năm mươi nghìn đồng).

Tại bản cáo trạng số 38/CT-VKSNT ngày 16/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đã truy tố bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng điểm a khoản 1 Điều 175, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo mức án từ 9 tháng đến 1 năm 3 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Phan Minh HA 20.000.000 đồng. Về vật chứng v án: Trả lại cho bị cáo Trần Thị Ngọc H: 01 Chứng minh nhân dân mang tên Trần Thị Ngọc H; 01 điện thoại Oppo màu trắng bạc. Trả cho anh Phan Minh HA 01 (một) hộp điện thoại di động có thông tin của Iphone XR 128GB màu trắng, số IMEI 353058101345016; và buộc bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại và người làm chứng trong v án. Xét thấy, ngày 03/3/2020, bị hại có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt và việc vắng mặt của các đương sự không gây ảnh hư ng đến việc xét xử v án nên căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố t ng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử v án theo thủ t c chung.

2]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ t c tố t ng được quy định trong Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố t ng khác không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, có đủ cơ s để khẳng định, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện trong giai đoạn điều tra, truy tố là có tính khách quan và hợp pháp.

Về nội dung: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận, khoảng 03 giờ ngày 11/6/2019, tại phòng 402 nhà nghỉ Hoàng Tùng, H có mượn của anh HA 01 điện thoại di động Iphone XR 128GB màu trắng để gọi điện thoại. Sau khi được anh HA m mật khẩu điện thoại và đi ra được khỏi phòng, H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của anh HA. Vì vậy, H đã bấm thang máy đi xuống bộ phận lễ tân, nhờ anh Nguyễn Xuân Ninh m cửa khách sạn, rồi lên xe taxi bỏ đi, mang theo chiếc điện thoại của anh HA. Do không có tiền trả tiền xe taxi, H đã cầm cố chiếc điện thoại di động Iphone XR 128GB màu trắng của anh HA mà H vừa chiếm đoạt được cho người tài xế taxi với số tiền 300.000 đồng. H không nhớ hãng taxi mà H đã đi, không nhớ đặc điểm và biển số xe của chiếc xe taxi; không nhớ đặc điểm của tài xế taxi và không biết số điện thoại của người lái taxi...

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, với Biên bản trích xuất dữ liệu camera, với Biên bản nhận dạng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo đã “mượn tài sản của người khác, sau đó bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố bị cáo về tội “Lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền s hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hư ng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, tài sản mà bị cáo chiếm đoạt có giá trị tương đối lớn, bị cáo có nhân thân xấu nên cần phải xử lý nghiêm.

4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên Hội đồng xét xử áp d ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự kHn hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.

5]. Về trách nhiệm dân sự:

Tại Đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 03/3/2020, bị hại Phan Minh HA yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho bị hại giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt là 20 triệu đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trần Thị Ngọc H cũng đồng ý bồi thường cho bị hại bị hại theo yêu cầu, Do đó, Hội đông xét xử buộc bị cáo Trần Thị Ngọc H phải bồi thường cho bị hại Phan Minh HA số tiền 20.000.000 đồng.

6]. Về vật chứng:

Đối với 01 Chứng minh nhân dân mang tên Trần Thị Ngọc H; 01 (một) điện thoại Oppo màu trắng bạc (không kiểm tra chất lượng bên trong): Là các tài sản thuộc quyền s hữu và sử d ng hợp pháp của bị cáo, không phải là công c , phương tiện phạm tội trong v án này nên tuyên trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 (một) hộp điện thoại di động có thông tin của Iphone XR 128GB màu trắng, số IMEI 353058101345016: Xét là tài sản riêng của anh HA nên tuyên trả lại cho anh HA.

7]. Về án phí: Bị cáo pHA chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.

* Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015;

Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Ngọc H 01 (một) năm 6 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

* Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Trần Thị Ngọc H phải bồi thường cho ông Phan Minh HA số tiền 20 triệu (hai mươi triệu) đồng.

* Về vật chứng: Áp d ng Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự

- Trả lại cho bị cáo Trần Thị Ngọc H: 01 Chứng minh nhân dân mang tên Trần Thị Ngọc H; 01 (một) điện thoại Oppo màu trắng bạc (không kiểm tra chất lượng bên trong);

- Trả lại cho ông Phan Minh HA: 01 (một) hộp điện thoại di động có thông tin của Iphone XR 128GB màu trắng, số IMEI 353058101345016;

Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/3/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang và Chi c c Thi hành án dân sự Thành phố Nha Trang.

* Về án phí: Áp d ng Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí tòa án; bị cáo Trần Thị Ngọc H phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm, 1.000.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ