- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Đình S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Đình S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2020/HS - ST Ngày: 07 - 9 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hậu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đắc Quýnh và bà Trần Thị Liên.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Đức - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyện - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2020/TLST - HS ngày 19 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2020/QĐXXST - HS ngày 24 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Đình S, sinh năm 1993 tại xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Đình M và bà Nguyễn Thị H; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/7/2020 đến ngày 29/7/2020 bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Những người làm chứng:
+ Ông Bùi Văn C, sinh năm 1963
Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương.
+ Anh Nguyễn Đăng D, sinh năm 1985
Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương.
Đều vắng mặt.
- Người chứng kiến:
Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1986; địa chỉ: Khu H, thị trấn N, huyện N, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 27/7/2020, Phan Đình S (là đối tượng nghiện ma túy) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 34P6 - 4434 (xe thuộc sở hữu của anh Nguyễn Đăng D là cậu họ của S) đi từ nhà ở thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương đến khu đô thị T - Q chơi. Tại đây, S có gặp và đặt vấn đề mua của một người thanh niên (S không biết lai lịch, địa chỉ) 1.500.000 đồng ma túy đá để sử dụng cho bản thân. Người thanh niên này đồng ý bán ma túy cho S và hẹn 18 giờ cùng ngày đến nhà nghỉ T ở thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương để giao ma túy. S đồng ý và đi về nhà. Đến 18 giờ cùng ngày, S điều khiển xe mô tô đến nhà nghỉ T, để xe bên đường đối diện với nhà nghỉ và đi bộ vào nhà nghỉ. S quan sát không thấy ai ở quầy lễ tân rồi đi lên tầng hai của nhà nghỉ, thấy phòng 203 đang mở cửa, S đi vào phòng và gặp người thanh niên hẹn bán ma túy cho S đang ở trong phòng. S đưa cho người thanh niên đó 1.500.000 đồng (gồm 13 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng). Người thanh niên đó đưa cho S 01 gói ma túy đá được quấn băng dính màu đen bên ngoài. S cầm gói ma túy và bỏ ra xem bên trong có 07 gói nhỏ cũng được quấn băng dính màu đen rồi đút toàn bộ số ma túy này vào trong túi quần phía trước bên trái đang mặc. Sau khi mua ma túy, đến khoảng 18 giờ 35 phút cùng ngày, S đi xuống dưới tầng một của nhà nghỉ và đi bộ sang đường để lấy xe ra về thì bị lực lượng công an huyện Nam Sách phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại vị trí túi quần phía trước bên trái S đang mặc 01 gói nilon được quấn quanh bằng băng dính màu đen, bên trong có 07 gói nilon cũng được quấn băng dính màu đen (trong đó có 02 gói kích thước 2,5 x 2 cm và 05 gói kích thước 2 x 1 cm), bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy và thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 34P6 - 4434.
Tại bản Kết luận giám định số 341/KLGĐ - PC09 ngày 29/7/2020, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng đựng trong phong bì niêm phong gửi đến giám định khối lượng là 1,430 gam (khối lượng hoàn lại sau giám định 1,285 gam) là ma túy, loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số 39/CT-VKS - NS ngày 18/8/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương đã truy tố bị cáo Phan Đình S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như nêu trên, thừa nhận việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách đối với mình là đúng và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phan Đình S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 20 tháng đến 23 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/7/2020. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy 1,285 gam ma túy và vỏ bao gói mẫu hoàn lại sau giám định. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 18 giờ 35 phút, ngày 27/7/2020, tại khu vực rìa đường gần nhà nghỉ T thuộc địa phận thôn L, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương, Phan Đình S có hành vi cất giấu trái phép 1,430 gam ma túy, loại Methamphetamine trong túi quần bên trái phía trước đang mặc với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự và ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, bị nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã cấu thành thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận tội nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo mục đích trừng trị, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người nghiện ma túy, cất giấu ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân; bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập thấp. Do vậy, không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 1,430 gam ma túy, loại Methamphetamine, sau khi giám định hoàn lại là 1,285 gam và vỏ bao gói mẫu là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo S, quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, có căn cứ xử lý sau nên không xem xét.
Chủ nhà nghỉ T là ông Bùi Văn C không biết việc các đối tượng thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy tại nhà nghỉ do mình quản lý và chưa làm thủ tục cho các đối tượng thuê phòng nên không xem xét xử lý là phù hợp.
Anh Nguyễn Đăng D cho bị cáo S mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 34P6 - 4434, nhưng không biết S sử dụng để đi mua ma túy. Chiếc xe này thuộc sở hữu hợp pháp của anh D, không phải là công cụ, phương tiện phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả chiếc xe mô tô trên cho anh D và không đặt ra việc xử lý với anh D là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Phan Đình S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Phan Đình S 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/7/2020.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 1,285 gam ma túy, loại Methamphetamine và vỏ bao gói mẫu hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 341/KLGĐ - PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương.
(Vật chứng hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/8/2020 giữa Công an huyện Nam Sách và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương).
Về án phí: Buộc bị cáo Phan Đình S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Nam Sách; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Sách; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Chi cục THADS huyện Nam Sách; - Trại tạm giam công an tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hậu |