- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN ––––––––––––––– Bản án số: 43/2020/HS-ST Ngày: 17-3-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Thủy;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cà Văn Pánh.
Bà Bạc Thị Kiên.
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý - Kiểm sát viên;
Ngày 17 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2020/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn C, tên gọi khác: Không; sinh năm 1978, tại Điện Biên; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Bản C, xã T, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn N (đã chết) và con bà: Lò Thị E, sinh năm 1929; có vợ: Lò Thị T, sinh năm 1981 và 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2002; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 30/12/2019, tạm giam từ ngày 01/01/2020 đến nay bị cáo có mặt tại phiên toà.
Ngƣời bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Thu H – Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên.
(Người bào chữa có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 30/12/2019, Lò Văn C đi bộ từ nhà tại Bản C, xã T, huyện Điện Biên đến đầu Bản C mục đích để tìm mua ma túy sử dụng. Tại khu vực đầu Bản C, C gặp và hỏi mua được 01 viên Methamphetamine được gói bên ngoài bằng nilon màu trắng, miệng gói được hơ lửa hàn kín của một người đàn ông dân tộc Thái (khoảng 30 tuổi, không biết tên, địa chỉ) với giá 30.000 đồng. C cất gói Methamphetamine vừa mua được vào túi quần bên phải đang mặc đi về nhà. Hồi 17 giờ 00 phút cùng ngày, khi C đi bộ đến khu vực đường thuộc Bản C, xã T, huyện Điện Biên thì bị tổ công tác Công an huyện Điện Biên phối hợp với Công an xã T phát hiện, bắt quả tang và thu giữ tại túi quần bên phải C đang mặc 0,1 gam Methamphetamine.
Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn C đã khai nhận lại toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Mọi lời khai hoàn toàn phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong và xác định khối lượng lấy mẫu giám định, kết luận giám định, kết luận điều tra....
Kết luận giám định số 68/GĐ-PC09 ngày 07/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Lò Văn C gửi giám định là ma túy: Loại Methamphetamine; Khối lượng vật chứng thu giữ của C là 0,1 gam; Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 323, Mục IIC, danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018; Không hoàn lại đối tượng giám định.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về các kết luận Giám định nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 46/CT - VKSĐB ngày 27/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,1gam Methamphetamine, đã gửi giám định toàn bộ không hoàn lại là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và bị cáo thuộc hộ nghèo, căn cứ Điều 136 BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn C có mặt tại phiên tòa nhất trí với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát, Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án, cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không bị oan sai, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bản thân bị cáo bị nhiễm HIV giai đoạn 2 nên đề nghị HĐXX áp dụng cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51/BLHS. Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát xét thấy đề nghị của Người bào chữa cho bị cáo phù hợp với mức đề nghị của Viện kiểm sát nên không có ý kiến gì tranh luận, tuy nhiên người bào chữa đề nghị áp dụng cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là không có căn cứ vì lý do trong sổ điều trị bệnh mãn tĩnh của bị cáo không thể hiện bị cáo bị nhiễm HIV giai đoạn nào, điều trị bệnh gì nên việc đề nghị của người bào chữa là không có căn cứ.
Bị cáo không bổ sung gì vào bài bào chữa và hoàn toàn nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, không có ý kiến gì tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Hành vi của bị cáo được chứng minh như sau: Khoảng 16 giờ, ngày 30/12/2019, Lò Văn C đi bộ đến đầu bản Chiềng ĐTng tìm mua ma túy sử dụng, bị cáo đã gặp một người đàn ông dân tộc thái khoảng 30 tuổi, không biết tên, địa chỉ mua được 01 viên Methamphetamine với giá 30.000 đồng. Toàn bộ số ma túy trên đã bị bắt quả tang và thu giữ là 0,1gam Methamphetamine. Hành vi của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo đã tiếp tay cho những người khác chuyên buôn bán các chất ma túy ngày càng phát triển, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng tới trật tự trị an, an toàn trong xã hội trên địa bàn huyện Điện Biên nói riêng cũng như địa bàn tỉnh Điện Biên nói chung. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình gây ra, nên bị cáo phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết nào tăng nặng. Bị cáo sinh ra và lớn lên tại xã T, huyện Điện Biên, được đi học hết lớp 01/12, nghỉ học ở nhà làm ruộng. Năm 1999 kết hôn với chị Lò Thị T, bị cáo sử dụng ma túy từ năm 2013 cho đến nay. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa người bào chữa đề nghị HĐXX áp dụng cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51/BLHS, vì bị cáo bị nhiễm HIV giai đoạn 2, tuy nhiên tại sổ điều trị bệnh mãn tĩnh mà người bào chữa đã nộp trước khi mở phiên tòa, trong sổ đã không thể hiện điều trị bệnh gì, giai đoạn mấy, cho nên đề nghị của Người bào chữa là không có căn cứ, nên không được HĐXX chấp nhận. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý và nghiêm trọng, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có một hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
. Về hành vi của bị cáo bị truy tố và các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng huyện Điện Biên và những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng đã được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì, không khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật và được chấp nhận.
. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, song xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo nghiện ma túy, nguồn thu chính từ làm ruộng. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Nguồn gốc số Methamphetamine thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ nên cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ. Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xử lý.
. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,1gam Methamphetamine, đã gửi giám định toàn bộ không hoàn lại là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành
. Án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và thuộc hộ nghèo, căn cứ Điều 136 BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Xử phạt bị cáo Lò Văn C 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 30/12/2019.
3. Vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố Tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 0,1gam Methamphetamine, đã gửi giám định toàn bộ không hoàn lại là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành.
4. Án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn và thuộc hộ nghèo, căn cứ Điều 136 BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (17/3/2020)./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND t. Điện Biên;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -VKSND h. Điện Biên
- Công an huyện Điện Biên.
- Nhà tạm giữ; tạm giam CA huyện Điện Biên
- Trại giam;
- Bị cáo;
- Người bào chữa;
- Cơ quan THA. HS Công an huyện Điện Biên
- Thi hành án Dân sự h. Điện Biên
Vũ Thị Thanh Thủy
- Phòng KTNV và THA – TAND tỉnh Điện Biên
- Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên;
- L u hå HS;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- L u bộ phận.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
HỘI THẨM NHÂN DÂN
Cà Văn Pánh
Vũ Thị Thanh Thủy
Bạc Thị Kiên Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND t. Điện Biên;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -VKSND h. Điện Biên
- Công an huyện Điện Biên.
- Nhà tạm giữ; tạm giam CA huyện Điện Biên
- Trại giam;
- Bị cáo
- Cơ quan THA. HS Công an huyện Điện Biên
- Thi hành án Dân sự h. Điện Biên
- Phòng KTNV và THA – TAND tỉnh Điện Biên
Vũ Thị Thanh Thủy
- Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên;
- L u hå HS;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- L u bộ phận.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
HỘI THẨM NHÂN DÂN
Lò Văn Ơn
Vũ Thị Thanh Thủy
Lƣờng Văn Hịa
| Nơi nhận: - VKSND t. Điện Biên; -VKSND h. Điện Biên - Công an huyện Điện Biên. - Nhà tạm giữ; tạm giam CA huyện Điện Biên - Trại giam; - Bị cáo - Cơ quan THA. HS Công an huyện Điện Biên - Thi hành án Dân sự h. Điện Biên - Phòng KTNV và THA – TAND tỉnh Điện Biên - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - L u hå HS; - Lưu hồ sơ vụ án; - L u bộ phận. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN Lò Văn Thƣơng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thanh Thủy THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN Vũ Thị Thanh Thủy Lò Văn Hải |