vanban.org

Bản án 43/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Hoàng Thị H và anh Phạm Văn Q.

Về nuôi con chung: 1. Giao con chung tên Phạm Quỳnh C sinh ngày 14 tháng 12 năm 2012 cho chị Hoàng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật; giao con chung tên Phạm Thị Quỳnh A sinh ngày 02 tháng 9 năm 2010 cho anh Phạm Văn Q trực … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Hoàng Thị H xin ly hôn anh Phạm Văn Q"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Hoàng Thị H và anh Phạm Văn Q.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUỶ NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2020/HNGĐ-ST
Ngày 16-4-2020
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhã

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Lương

Ông Nguyễn Văn Chương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Chính - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2020 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 09/2020/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2020 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2020/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H; Địa chỉ: Thôn 5, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.(Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Phạm Văn Q; Địa chỉ: Thôn 5, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 06 tháng 11 năm 2019 cùng các lời khai tại Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, chị Hoàng Thị H (nguyên đơn) trình bày:

Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị H và anh Phạm Văn Q kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, được tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 57 ngày 23 tháng 10 năm 2009. Sau khi cưới vợ chồng sinh sống tại xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tin tưởng nhau nên tH xảy ra cãi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn căng thẳng nên vợ chồng đã ly thân từ năm 2014 cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với Anh Phạm Văn Q.

Về con chung: Chị Hoàng Thị H và Anh Phạm Văn Q có hai con chung tên là Phạm Thị Quỳnh A sinh ngày 02 tháng 9 năm 2010 và Phạm Quỳnh C sinh ngày 14 tháng 12 năm 2012. Hiện anh Q đang trực tiếp nuôi hai con chung; trường hợp ly hôn, chị đề nghị được nuôi con tên Phạm Quỳnh C và đề nghị giao con Phạm Thị Quỳnh A cho anh Phạm Văn Q tiếp tục nuôi dưỡng.Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, chị đề nghị để chị và anh Phạm Văn Q tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị H khai chị và anh Phạm Văn Q không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Phạm Văn Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng không trình bày quan điểm của mình.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng, bị đơn chưa tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về việc giải quyết nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban TH vụ Quốc hội: Cho ly hôn giữa chị Hoàng Thị H và anh Phạm Văn Q. Giao con chung tên Phạm Thị Quỳnh A sinh ngày 02 tháng 9 năm 2010 cho anh Phạm Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng; giao con tên Phạm Quỳnh C sinh ngày 14 tháng 12 năm 2012 cho chị Hoàng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do chị Hoàng Thị H và anh Phạm Văn Q tự thỏa thuận giao nhận cho nhau. Về tài sản chung vợ chồng do Tòa án không thụ lý giải quyết khi ly hôn nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết trong vụ án này. Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về các tài liệu, chứng cứ và tình tiết của vụ án:

Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, các tình tiết mà các bên đã thống nhất: Về quan hệ hôn nhân, con chung và lý do đề nghị Tòa án giải quyết các quan hệ đó phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà đương sự giao nộp, phù hợp với tài liệu do Tòa án thu thập được, anh Phạm Văn Q không có ý kiến gì nên thuộc trường hợp không phải chứng minh; Quan hệ tài sản chung vợ chồng đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt vấn đề phải chứng minh.

Các tình tiết mà các bên không thống nhất: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đây là vụ án Ly hôn, tranh chấp về nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng. Chị Hoàng Thị H vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, anh Phạm Văn Q đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do; Căn cứ Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Hoàng Thị H và anh Phạm Văn Q.

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Hoàng Thị H và anh Phạm Văn Q được xác lập theo Giấy chứng nhận kết hôn số 57 ngày 23 tháng 10 năm 2009 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tin tưởng nhau, mâu thuẫn trở nên căng thẳng, trầm trọng dẫn đến việc vợ chồng sống ly thân từ năm 2013 đến nay thể hiện tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài và trầm trọng, hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị Hoàng Thị H xin ly hôn với anh Phạm Văn Q. Vì vậy, cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hoàng Thị H với anh Phạm Văn Q.

Về con chung: Chị Hoàng Thị H và anh Phạm Văn Q có hai con chung tên Phạm Thị Quỳnh A sinh ngày 02 tháng 9 năm 2010 và Phạm Quỳnh C sinh ngày 14 tháng 12 năm 2012. Khi ly hôn chị Hoàng Thị H đề nghị được nuôi dưỡng con chung tên Phạm Quỳnh C sinh ngày 14 tháng 12 năm 2012 và giao con chung tên Phạm Thị Quỳnh A sinh ngày 02 tháng 9 năm 2010 để anh Q trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Phạm Văn Q không trình bày quan điểm. Tài liệu, chứng cứ và lời trình bày của các đương sự thể hiện anh Phạm Văn Q và chị Hoàng Thị H có điều kiện, khả năng và thời gian để chăm sóc con chung tốt, con chung đang do anh Phạm Văn Q nuôi dưỡng, khỏe mạnh và phát triển bình tH. Vì vậy áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao con chung tên Phạm Thị Quỳnh A sinh ngày 02 tháng 9 năm 2010 cho anh Phạm Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng; giao con Phạm Quỳnh C sinh ngày 14 tháng 12 năm 2012 cho chị Hoàng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, chị Hoàng Thị H trình bày để tự thỏa thuận và anh Phạm Văn Q không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị H và anh Phạm Văn Q không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban TH vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Chị Hoàng Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban TH vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Hoàng Thị H và anh Phạm Văn Q.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung tên Phạm Quỳnh C sinh ngày 14 tháng 12 năm 2012 cho chị Hoàng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật; giao con chung tên Phạm Thị Quỳnh A sinh ngày 02 tháng 9 năm 2010 cho anh Phạm Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

2.2. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Hoàng Thị H và anh Phạm Văn Q tự thỏa thuận giao nhận cho nhau.

3. Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị H và anh Phạm Văn Q không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Chị Hoàng Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, chị Hoàng Thị H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng tại Biên lai số 0003360 ngày 03 tháng 01 năm 2020; chị Hoàng Thị H đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị H, anh Phạm Văn Q được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ