- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Ngọc H.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2020/HNGĐ-ST Ngày: 23 – 7 – 2020 V/v tranh chấp HNGĐ Ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Ngọc Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hồ Thị Mai Hương
2. Ông Phạm Phước Tâm
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Tấn Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 23 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 201/2020/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2020 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số: 74/2020/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1991
Địa chỉ: Lô F, khu tái định cư khóm M, thị trấn T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ liên hệ: Số 856, đường T, phường 8, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Trần Quốc Hùng, sinh năm 1991
Địa chỉ: Khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm chị Nguyễn Thị Ngọc H là nguyên đơn trình bày:
- Về hôn nhân: Chị H và anh H chung sống với nhau từ năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, vào ngày 12/12/2013. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Thời gian sau, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, tranh cãi do bất đồng về quan điểm sống. Vợ chồng đã tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Vợ chồng đã không còn sống chung với nhau từ tháng 10/2019 đến nay. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Quốc H.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Trần Bảo Kh, sinh ngày 26/10/2008 và Trần Ngọc Bảo A, sinh ngày 27/6/2016. Hiện con chung Bảo Kh đang sống cùng anh H, con chung Bảo A đang sống cùng chị H. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Bảo Kh và Bảo A, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có nợ ai và cũng không cho ai nợ.
Bị đơn anh Trần Quốc H đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án và được triệu tập xét xử hợp lệ, biết nội dung yêu cầu khởi kiện của chị H nhưng không có ý kiến, không tham gia hòa giải và không có mặt tại phiên tòa sơ thẩm.
Tài liệu chứng cứ trong hồ sơ do đương sự cung cấp gồm:
- 01 Chứng minh nhân dân tên Nguyễn Thị Ngọc H (Photo);
- 01 Sổ hộ khẩu (Photo);
- Giấy chứng nhận kết hôn (Bản chính);
- 01 Trích lục khai sinh tên Trần Bảo Kh, sinh ngày 26/10/2008 (Bản sao);
- 01 Trích lục khai sinh tên Trần Ngọc Bảo A, sinh ngày 27/6/2016 (Bản sao);
- 01 Đơn xác nhận nơi cư trú ngày 01/10/2019 (Bản chính).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Chị Nguyễn Thị Ngọc H có đơn yêu cầu được ly hôn, nuôi con chung với anh Trần Quốc H. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con”.
Anh Trần Quốc H là bị đơn trong vụ kiện có địa chỉ tại huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Trần Quốc H là bị đơn trong vụ kiện nhưng anh H vẫn cố tình vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì về việc xin ly hôn của chị H. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Trần Quốc H là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh H sống chung với nhau từ năm 2007 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Mỹ Thọ, huyện C, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 12/12/2013, do đó hôn nhân giữa chị H và anh H là hợp pháp.
Trong thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, tranh cãi, bất đồng với nhau về quan điểm sống. Chị H và anh H không còn chung sống với nhau từ tháng 10/2019 đến nay, vợ chồng cũng không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau.
Khi giải quyết vụ kiện, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập anh Trần Quốc H tham gia phiên hòa giải, phiên tòa nhưng anh H vắng mặt không có lý do cũng như không có ý kiến hay biện pháp nào để hàn gắn tình cảm đối với yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc H. Xét thấy hôn nhân giữa chị H và anh H lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu ly hôn với anh H là có căn cứ để chấp nhận.
Từ những căn cứ nêu trên đủ cơ sở để xác định hôn nhân giữa chị H và anh H là mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị H.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Trần Bảo Kh, sinh ngày 26/10/2008 và Trần Ngọc Bảo A, sinh ngày 27/6/2016. Hiện con chung Bảo Kh đang sống cùng anh H, con chung Bảo A đang sống cùng chị H. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Bảo Kh và Bảo A, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Theo bản tự khai ngày 15/6/2020 của cháu Trần Bảo Kh, sinh ngày 26/10/2008 có nguyện vọng được sống với chị H. Tại khoản 2 điều 81 Luật Hôn Nhân Gia Đình năm 2014 quy định: “...nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Đối với con chung Trần Ngọc Bảo A, sinh ngày 27/6/2016 chị H yêu cầu được nuôi dưỡng, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Do anh H vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không có lời trình bày. Vì vậy, để bảo đảm sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của cháu Bảo Kh và Bảo A, cần tiếp tục giao cháu Bảo Kh và Bảo A cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị H không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung nên anh H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc H trình bày vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, anh H không có ý kiến về tài sản chung và nợ chung, không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 144 và khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Ngọc H.
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với anh Trần Quốc H.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc H được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Trần Bảo Kh, sinh ngày 26/10/2008 và Trần Ngọc Bảo A, sinh ngày 27/6/2016.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không có yêu cầu.
Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc H trình bày vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, anh H không có ý kiến về tài sản chung và nợ chung, không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003594 ngày 05 tháng 5 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C. Như vậy tiền án phí đương sự đã nộp xong.
Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKS HCL; - Toà án Tỉnh; - Lưu: HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Ngọc Minh |